Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam
Tên:
Email:
 

  Hôm nay, Ngày 5 tháng 9 năm 2010

 Suy niệm - Chia sẻ: Lời chúa - Các bài khác
(30/07/2010 15:38 PM)
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 6A 24 )
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.07.2010.
 
CHÂN DUNG VỊ CHÂN PHƯỚC GIOAN DUNS SCOT: TỰ DO ĐÍCH THỰC, CHỈ KHI NÀO HỢP VỚI CHÂN LÝ.
 
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI


Anh Chị Em thân mến,
sáng hôm nay - sau một vài bài giáo lý về một số nhà thần học cao cả khác nhau - tôi muốn được giới thiệu Anh Chị Em một khuôn mặt quan trọng khác trong lịch sử thần học: đó là vị Chân Phước Gioan Duns Scot, vào vào cuối thế kỷ XIII.


Một ghi chú được khắc trên ngôi mộ ngài lược tóm địa danh tiểu sử ngài:
   - "Anh Quốc đón rước ngài; Pháp Quốc huấn dạy ngài; Koeln, bên Đức, còn giữ lại di hài của ngài; ở Tô Cách Lan ( Scozia ) ngài được sinh ra ".
Chúng ta không thể thờ ơ đối với các nguồn tin nầy, cũng bởi vì chúng ta có rất ít tin tức về đời sống của Duns Scot.
Có lẽ cậu được sinh ra năm 1266, trong một làng có tên là Duns, gần Edimburg.
Được ơn của Thánh Phanxicô Assisi lôi cuốn, anh gia nhập vào gia đình các Tiểu Đệ , và năm 1291 được truyền chức Linh Mục.


Được Chúa ban cho một trí khôn ngoan sáng lạng và có khuynh hướng suy luận,  trí khôn ngoan đó làm cho Cha Gioan Duns Scot được truyền thống gán cho là " Doctor subtilis" ( Vị Tiến Sĩ Tinh Vi ".
Duns Scot được hướng dẫn vào việc học hỏi triết học và thần học tại các Viện Đại Học thời danh ở Oxford và Paris.
Sau kết thúc một cách tốt đẹp chương trình học vấn, Cha bắt đầu dạy thần học ở Đại Học Oxford và Cambridge, rồi kế đến ở Paris, bằng cách khởi đầu bình luận, như các vị Sư Phụ thời đó, các Tư Tưởng Phán Quyết ( Sentenze ) của Pietro Lombardo. Các tác phẩm chính yếu  của Duns Scot,  kết quả của những lớp học đó, và có tựa đề theo địa danh ở nơi Cha giảng dạy:
   - Opus Oxoniense ( Tác Phẩm ở Oxford ),
   - Reportatio Cambridgensis ( Tường Thuật ở Cambridge ),
   - Reportata Parisiensia ( Được Tường Thuật ở Paris ).
Cha Duns Scot rời khỏi Paris, khi xảy ra mối tương phản quan trọng giữa Vua Philips IV và Đức Giáo Hoàng Bonifacio VIII, bởi lẽ Cha Duns Scot thích tự lựa chọn cuộc lưu vong, hơn là ký tên vào một tài liệu chống lại Đức Giáo Hoàng, theo như chỉ thị áp đặc của Vua đối với tất cả các tu sĩ.
Như vậy, vì lòng yêu thương đối với Tông Toà của Thánh Phêrô - cùng chung với các Thầy Dòng Phanxicô, Cha bỏ xứ ra đi.
 
1 - Anh Chị Em thân mến, sự kiện vừa kể mời gọi chúng ta nhớ đến, trong lịch sử Giáo Hội, biết bao nhiêu lần các tín hữu gặp phải sự oán thù và cả đến chịu đựng các cuộc trấn áp vì lòng trung thành và lòng tôn kính của mình đối với Chúa Ki Tô, đối với Giáo Hội, và đối với Đức Giáo Hoàng.
Tất cả chúng ta nhìn với lòng ngưỡng mộ các tín hữu nầy, bởi vì anh chị em đó dạy chúng ta biết gìn giữ như là một của cải qúy giá đức tin vào Chúa Ki Tô và sự thông hiệp với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và, như vậy, với Giáo Hội hoàn vũ.
 
Tuy nhiên các mối tương quan giữa vua Pháp Quốc và Đấng Kế Vị Đức Bonifacio VIII không bao lâu được trở lại thân hữu với nhau, và như vậy năm 1305 Cha Duns Scoto có thể trở vào Paris lại để dạy thần học ở đó với tước vị là " Magister regens ", theo từ ngữ ngày nay có thể nói là giáo sư thường nhiệm ( professore ordinario ).
Kế đến các Đấng Bề Trên sai Cha đến Koeln, như là giáo sư tại Học Viện Thần Học Phanxicô, nhưng Cha chết đi ngày 8 tháng 11 năm 1308, lúc chỉ mới có 43 tuổi. Dù sao, Cha cũng để lại một số đáng kể các tác phẩm.
Do danh tiếng đời sống thánh thiện mà Cha có được, việc tôn kính Cha được mau chóng loan truyền trong Dòng Phanxicô và Đức Giáo Hoàng Đáng Kinh Gioan Phaolồ II muốn xác nhận một cách trọng thể Cha là vị Chân Phước, ngày 20 tháng 3 năm 1993, bằng cách xác nhận Cha là
   - " Ca Sĩ của Ngôi Lời Nhập Thể và là Người Bênh Vực cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ". 
Trong cách diễn tả vừa kể được đức kết việc góp phần lớn lao của Cha Duns Scot cho lịch sử thần học.
 
Trước hết Cha Duns Scot suy niệm về Mầu Nhiệm Nhập Thể và, khác với nhiều tư tưởng gia Ki Tô giáo thời đó, Cha bênh vực rằng Con Thiên Chúa vẫn xuống thế trở nên người như thường, kể cả nếu nhân loại không phạm tội. Cha xác quyết trong Reportata Parisiensa:
 
   - " Nghĩ rằng Thiên Chúa từ bỏ công trình, nếu Adong không phạm tội, có lẽ là lối suy nghĩ không hợp lý ! Như vậy, tôi xác quyết rằng việc sa ngã không phải là nguyên cớ cho việc tiền định cho Chúa Ki Tô , và rằng - ngay cả không có ai sa ngã, thiên thần lẫn con người cũng vậy - trong giả thuyết nầy, Chúa Ki Tô vẫn được tiền định trong cùng một đường lối " ( in III Sent., d. 7, 4).
 
Có lẽ đây là tư tưởng làm cho mọi người hơi bất ngờ, nhưng là tư tưởng được phát sinh, bởi vì đối với Duns Scot, việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa, đồ án của Chúa Cha từ muôn thuở trong chương trình tình yêu của Người, là việc hoàn hảo công trình sáng tạo và làm cho mọi tạo vật, trong Chúa Ki Tô và nhờ Người, được đầy ấp ơn sủng, để ngợi khen và vinh danh Chúa đến muôn đời.


Cha Duns Scot, mặc dầu trên thực tế ý thức rằng, vì nguyên tội, Chúa Ki Tô đã cứu độ chúng ta qua Khổ Nạn, Tử Nạn và Phục Sinh của Người, Cha vẫn xác nhận rằng Nhập Thể là công trình cao cả và tươi đẹp nhứt của cả lịch sử cứu rổi, và công cuộc Nhập Thể đó, không bị ảnh hưởng lệ thuộc vào bất cứ yếu tố ngẩu nhiên nào, mà là ý kiến nguyên thủy của Thiên Chúa để sau cùng kết hợp tất cả tạo vật lại với Người trong con người và trong thể xác của Chúa Con.
 
Là đệ tử trung thành của Thánh Phanxicô Assisi, Cha Duns Scoto thích chiêm niệm và giảng dạy Mầu Nhiệm Khổ Nạn cứu độ của Chúa Ki Tô, phương thức diễn tả tình yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa, Đấng thông ban ra bên ngoài mình,  với lòng đại lượng tối cao, các tia sáng  lòng tốt lành và tình yêu Người ( cfr Tractatus de primo principio, c. 4 ).
Và tình yêu đó không phải chỉ được mạc khải trên núi Calvario, mà cả trong Phép Thánh Thể, mà Cha Duns Scoto rất sùng kính và Cha thấy đó như là Bí Tích của sự hiện diện hiện thực của Chúa  Giêsu và như là Bí Tích hiệp nhứt và thông hiệp, khiến cho chúng ta, người nầy yêu thương người kia và thương yêu Thiên Chúa, như là Của Cải Tuyệt Đỉnh chung cho mọi người ( cfr Reportata Parisiensia, in IV Sent., d.8, q.1, n.3).
 
Anh Chị Em thân mến, nhãn quang thần học nầy, thần học " Ki Tô Luận "  mãnh liệt, mở ra cho chúng ta chiêm ngắm, sửng sốt và biết ơn: Chúa Ki tô là trung tâm lịch sử và vũ trụ, là Đấng làm cho đời sống chúng ta có ý nghĩa, địa vị và giá trị !
Như ở Manila Đức Phaolồ VI, hôm nay tôi cũng muốn thét lên trước thế giới:
   - " Chúa Ki Tô là Đấng mạc khải Thiên Chúa vô hình, là người con trưởng nam của mọi tạo vật, là nền tảng của mọi sự vật. Người là Vị Thầy của nhân loại, là Đấng Cứu Độ; Người được sinh ra, chết đi và sống lại vì chúng ta. Người là trung tâm điểm lịch sử của thế giới; Người là Đấng biết và thương yêu chúng ta, Người là bạn đồng hành và là người bạn của cuộc sống chúng ta... Có lẽ tôi nói không bao giờ hết về Người " ( Omelia, 29.11.1970).
 
2 - Không những chỉ vai trò của Chúa Ki Tô trong lịch sử cứu rổi, mà cả phận vụ của Mẹ Maria cũng là đối tượng suy tư của Vị " Doctor subtilis ".
Trong thời của Duns Scot, phần lớn các nhà thần học chống lại một phản biện, được coi là dường như không thể nào vượt thắng được, đó là phản biện chống lại tín điều, theo đó thì Mẹ Maria Chí Thánh được khỏi nguyên tội ngay từ lúc đầu tiên Mẹ được đầu thai trong lòng mẹ mình. Bởi lẽ việc cứu rổi cho mọi người là công trình được Chúa Giêsu thực hiện. Do đó, thoạt nhìn, có lẽ cách xác quyết của tín điều  trên có thể không được vững chắc, như thể là Mẹ Maria không cần nhờ Chúa Ki Tô và sự cứu độ của Người.


Bởi đó các nhà thần học chống lại giả thiết đó.
Trước tình trạng như vậy, để làm cho mọi người hiểu  được sự đặc ân miễn nhiễm nầy đối với nguyên tội, Cha Duns Scot khai triển một luận cứ, mà sau đó cũng được Đức Thánh Cha PIO IX dùng năm 1854, khi ngài long trọng xác nhận tín điều về Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Luận cứ đó là chủ đề về " Sự Cứu Độ Tiên Liệu " ( Redenzione preventiva ), theo đó thì " Vô Nhiễm Nguyên Tội " là công trình tuyết hảo của việc Cứu Độ, được Chúa Ki Tô thực hiện, bởi vì mãnh lực của tình yêu Người và của sự can thiệp của Người, Người đã đạt được cho Mẹ Maria được gìn giữ khỏi nguyên tội.


Như vậy  Mẹ Maria đã hoàn toàn được Chúa Ki Tô cứu độ, ngay cả trước khi Mẹ được cưu mang.
Các Thầy Dòng Phanxicô, các anh em của Cha đã đón nhận và hân hoan loan truyền chủ đề nầy, và các nhà thần học khác - thường cả với lời tuyên hứa long trọng - hứa rằng mình sẽ chuyên lo bênh vực và hoàn hảo hoá chủ thuyết đó.
 
Về vấn đề vừa kể, tôi muốn làm sáng tỏ một yếu tố, mà tôi nghĩ là quan trọng. Các nhàn thần học có giá trị, như Duns Scot về tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, với sự cộng tác bằng tư tưởng của họ, họ đã làm thêm sung mãn điều mà Cộng Đồng Dân Chúa đã tin một cách bộc phát về Đức Trinh Nữ Phúc Đức, và Cộng Đồng Dân Chúa đã diễn tả ra bằng các động tác sùng kính hiếu thảo, bằng các lối trình bày nghệ thuật, và nói cách chung, bằng đời sống Ki Tô hữu.


Như vậy đức tin vào tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, cũng như vào tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đã hiện hữu trong Cộng Đồng Dân Chúa, trong khi đó thì nền thần học chưa tìm được chìa khoá để giải thích được hoàn hảo tín điều của đức tin.
Như vậy Cộng Đồng Dân Chúa đi trước các nhà thần học và tất cả những gì vừa kể là nhờ " sensus fidei " ( ý nghĩa thiêng liêng của đức tin ) , tức là khả năng được Chúa Thánh Thần ban cho, giúp cho họ có khả năng nắm lấy được thực thể của đức tin, với lòng khiêm nhường của con tim và lý trí.
Trong ý nghĩa vừa kể, Cộng Đồng Dân Chúa là " bậc thầy đi trước " và kế đến họ phải được tìm hiểu sâu xa hơn và được thần học đón nhận bằng lý trí.
Ước gì các nhà thần học biết lắng nghe nguồn mạch đức tin nầy và gìn giữ lòng khiêm nhường và đơn sơ của những kẻ bé mọn!
Một vài tháng qua tôi đã nhắc nhở đến, khi nói:
   - " Có những tài năng cao cả, những nhà đại chuyên môn, các nhà đại thần học, các sư phụ của đức tin, đã dạy chúng ta nhiều điều. Các vị đó đã thâm thấu vào vào các chi tiếc Thánh Kinh...nhưng các vị đã không thể thấy được chính mầu nhiệm, chính nhận cội...Điều chính yếu vẫn còn nằm ẩn giấu! Trái lại, ngay cả trong thời đại chúng ta cũng có những kẻ bé mọn biết được mầu nhiệm đó. Chúng ta đang nghĩ đến Thánh Bernadette Soubirous, đến Thánh Teresa ở Lisieux, với cách đọc Thánh Kinh mới mẻ " không có tính cách khoa học ", nhưng lại đi thẳng vào tâm của Thánh Kinh " ( Omelia S. Messa con i Membri della Commissione Teologica Internazionale, 1 dicembre 2009 ) 
 
3 - Sau cùng, Cha Duns Scot đã khai triển một điểm mà cách suy nghĩ tân tiến của chúng ta rất nhạy cảm.
Đó là chủ đề về tự do và mối liên hệ của nó đối với ý chí và lý trí.
Vị tác giả của chúng ta nhấn mạnh đến tự do như là phẩm chất nền tảng của ý chí, bằng cách khởi đầu với việc đặt khuynh hướng ý chí định, được phát triển ngược lại với lý trí chủ nghĩa của Thánh Augustino và Thánh Tôma.


Đối với Thánh Tôma Aquino, theo gương Thánh Augustino, tự do không thể được coi là đặc tính bẩm sinh của ý chí, mà là kết quả của việc cộng tác phối hợp giữa ý chí và lý trí. Một tư ưởng về tự do bẩm sinh và tuyệt đối được đặt trong ý chí đi trước lý trí, nơi Thiên Chúa cũng như trong con người, có cái nguy đưa đến tư tưởng về cả một Thiên Chúa không có liên quan gì đến sự thật và điều tốt lành.
Lòng ao ước cứu giải được tính cách siêu việt tuyết đối và khác biệt của Chúa, qua một quan niệm nổi bậc triệt để và không thể thấu hiểu được  ý chí của Người là quan niệm không lưu ý đến việc Thiên Chúa đã mạc khải chính Người nơi Chúa Ki Tô là Thiên Chúa " Ngôi Lời ", Đấng đã hành động và vẫn hành động đầy tình yêu thương đối với chúng ta.
Dĩ nhiên, như Duns Scot xác quyết trong đường hướng thần học Phanxicô, rằng tình yêu vượt thắng sự hiểu biết và có khả năng hiểu được tư tưởng càng lúc càng hơn , nhưng luôn luôn vẫn là tình yêu của Thiên Chúa " Ngôi Lời " ( cfr Benedetto XVI, Discorso a Regensburg, Insegnamento di Benedetto XVI, II ( 2006 ), p. 261).
Nơi con người cũng vậy, tư tưởng về tự do tuyệt đối, được đặt trong ý chí, mà quên đi mối liên hệ với sự thật, là không biết rằng chính sự tự do cần phải được giải thoát khỏi những lằn mức do tội lỗi đưa đến.
 
Trong khi nói chuyện với các chủng sinh Roma - năm rồi - tôi đã nhắc nhớ rằng:
   - " tư do ở mọi thời đại là giấc mơ to lớn của nhân loại, ngay từ lúc đầu, mà nhứt là trong thế hệ tân tiến " ( Discorso al Pontifcico Seminario Romano  Maggiore, 20 febbraio 2009). 
Nhưng, chính lịch sử hiện đại, ngoài ra kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta, dạy chúng ta rằng tự do chính đáng, và giúp kiến tạo một nền văn minh thật sự nhân bản, chỉ khi nào tự do đó được hoà hợp với chân lý.
Nếu tách rời ra khỏi chân lý, một cách thảm đạm tự do trở thành  nguyên lý làm đổ nát mối quân bình nội tại của con người, nguồn mạch cho thái độ ngạo mạn ỷ lại của kẻ mạnh và bạo lực, tạo nên đau khổ và tan thương.
Tự do, cũng như tất cả các khả năng mà con người đuợc ban cho, tăng trưởng và hoàn hảo hoá, Cha Duns Scot xác nhận, khi con người rộng mở mình ra với Thiên Chúa, bằng cách định giá bẩm tính cho việc lắng nghe tiếng của Người, mà ngài gọi là potentia oboedentialis ( khả năng vâng lời ), khi chúng ta đặt mình lắng nghe sự Mạc Khải của Thiên Chúa, lắng nghe Lời Chúa, để đón nhận, lúc đó chúng ta được đụng chạm đến bởi một sứ điệp làm cho đời chúng ta  đầy ánh sáng và hy vọng, và chúng ta thực sự tự do.
 
Anh Chị Em thân mến, vị Chân Phước Duns Scot dạy chúng ta rằng trong đời sống chúng ta,
   - điều thiết yếu là tin rằng Chúa ở gần chúng ta và thương yêu chúng ta trong Chúa Giêsu,
   - và như vậy, nuôi dưỡng một tình yêu sâu đậm đối với Người và đối với Giáo Hội của Người.


Chúng ta hãy là những chứng nhân cho tình yêu nầy ở trần gian.


Xin Mẹ Maria Chí Thánh giúp chúng con biết đón nhận tình yêu vô hạn nầy của Chúa, tình yêu mà chúng con sẽ hưởng được trọn vẹn muôn đời trên Trời, khi sau cùng linh hồn chúng con được hiệp nhứt vĩnh viễn với Chúa, trong mối thông hiệp với các Thánh.
 
Phỏng dịch tư nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
( Thông tấn www.vatican.va, 07.07.2010 ).
 Trở về
Các bài viết khác:
GIẢ VỜ YÊU (03/09 04:23:02 AM)
Làm môn đệ của Chúa (03/09 04:17:19 AM)
CON ĐƯỜNG THEO CHÚA (03/09 04:12:57 AM)