|
Hôm nay, Ngày
5 tháng
9 năm
2010
Suy niệm - Chia sẻ: Lời chúa - Các bài khác
|
(31/07/2010 06:51 AM) |
GIÀU CÓ CỦA CUỘC SỐNG, CHỚ KHÔNG PHẢI CUỘC SỐNG CỦA SỰ GIÀU CÓ
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( III C 39 ); ( 01. 08. 2010); ( Lc 12, 13-21) CHÚA NHẬT XVIII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM C
Thánh Luca là tác giả của Phúc Âm về sự khó nghèo, tác giả duy nhứt trong Phúc Âm Nhất Lãm còn giữ lại cho chúng ta lời giảng dạy về lòng khó nghèo trong Phúc Âm hôm nay. Của cải và tích trử của cải không phải là khoản không gian tự do cho phép chủ nhân của chúng có được một đời sống Ki Tô hữu đích thực. Qua bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu dạy chúng ta việc quản trị của cải vật chất phải luôn luôn được đối chiếu với ánh sáng Phúc Âm của Nước Thiên Chúa. 1 - Câu hỏi của một người vô danh. " Một người trong đám đông ", như thói quen thường tình của dân chúng Do Thái, người nghe thường hay đặt câu hỏi với một kinh sư, có kinh nghiệm về vấn đề luật pháp, để lôi cuốn ông vào vấn đề mình đang canh cánh bên lòng: - " Một người trong đám đông thưa với Chúa Giêsu rằng: " Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh con chia phần gia tài cho con " ( Lc 12, 13). Thái độ vừa kể của người vừa thưa chuyện cho thấy anh ta nhìn nhận quyền giảng dạy của Chúa Giêsu đối với một vấn đề, đó là vấn đề thừa kế gia sản, mà ai trong chúng ta cũng biết, nhiều khi đưa đến sự sứt mẻ cả tình máu mủ trong gia đình. " Chia sớt gia tài " cho người anh em, đó là vấn đề đã được Lề Luật Moisen tiền liệu: - " Thiên Chúa phán với ông Moisen: " ...Ngươi phải cho chúng một phần đất làm gia nghiệp giữa các anh em của cha chúng; ngươi sẽ chuyển cho chúng gia nghiệp của cha chúng" ( Nm 27, 7). Và trong trường hợp có sự tranh thấp, phía liên hệ có thể đặt câu hỏi với các thầy thông thái luật, để nhờ ông với khả năng luật pháp của mình, có thể cho biết những điều khoản luật để áp dụng, cũng như có thể là người làm trọng tài hoà giải các mối bất hoà. Nhưng trước câu hỏi của " một người trong đám đông " vừa kể, Chúa Giêsu không đi thẳng vào vấn đề bằng câu trả lời về vấn đề luật pháp. Người dành cho mình quyền tự do tối thượng để giảng dạy. Nhân cơ hội câu hỏi được đặt ra, Chúa Giêsu dùng cơ hội để giảng dạy theo ý nghĩa của sách Khôn Ngoan. Và đây cũng là một cơ hội để dạy thêm cho các môn đệ. 2 - Lý do sâu xa khiến Chúa Giêsu từ chối mình được coi là quan toà hay người trung gian. -" Người đáp : " Nầy anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay làm người chia gia tài cho anh? " ( Lc 12, 14). Chúa Giêsu khước từ chức vụ vị quan toà để xử kiện hay người trung gian có thẩm quyền can thiệp trong vụ phân chia gia tài, mặc cho thái độ của Người có thể làm cho người khác hiểu lầm về khả năng luật pháp cũng như điều giải của Người, khiến cho nhiều người có mất tin tưởng và lòng ngưỡng mộ. Nguời muốn tiếp tục đi thẳng con đường mà sứ mệnh đòi buộc. Thái độ của Người được giải thích rõ hơn bằng hai câu tục ngữ làm bối cảnh cho dụ ngôn người giàu có khờ dại và làm cho người nghe đến sát gần hơn sứ điệp Sách Khôn Ngoan, mà Người muốn đề cập đến: - " Và Người nói với họ: " Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà đời sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu " ( Lc 12, 15). - " Đồ dại dột ! Nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ? " ( Lc 12, 20). Thốt lên hai câu tục ngữ vừa kể làm bối cảnh cho người giàu có khờ dại, Chúa Giêsu có ý giảng dạy chống lại tập tục của dân Do Thái lúc đó cho rằng của cải giàu có là của Chúa chúc phúc ban cho, nên càng thu góp, tích trử càng được chúc phúc, nhưng họ không bao giờ đặt vấn đề của cải trong nhãn quang luân lý. Bởi đó con người tha hồ chạy theo lòng ước muốn chiếm hữu của mình. a ) Câu tục ngữ thứ nhứt, - " không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu " , được Chúa Giêsu thốt lên như là câu nói thẳng, trực diện ( ad hominem ) với người vừa đặt câu hỏi với Người. là kẻ đang để cho lòng ham muốn của mình ( pleonexía ) bộc phát thốt ra hơn là do đức công bình thúc đẩy. Lòng ham muốn không biên giới đó được Thánh Phaolồ diễn tả như là lòng khao khát không bao giờ có thể thoả mãn được, biến con người mình thành vô số chủ thể, nhảy ào tới chụp lấy bất cứ điều gì có thể chiếm hữu được. Đàng sau lời khuyên dạy của Chúa Giêsu cần phải xa lánh lối sống ham muốn vô hạn đó, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa hơn những gì Phúc Âm Thánh Luca muốn nói với chúng ta. Đó là tại sao cứ cố gắng không ngừng thu tóm cho mình những gì mà Chúa Cha ban nhưng không cho chúng ta? Và thái độ đó khiến cho con người trở thành nô lệ của tiền tài của cải và thu tóm mọi thứ cho mình, như đó là phương thức để giải quyết bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc. Con người không còn yên tâm thanh thoảng, tin cậy vào Thiên Chúa là Cha, Đấng nuôi nấng chim trời và mặc áo đẹp cho cả hoa huệ ngoài đồng: - " Hãy nhìn những con quạ mà suy: chúng không gieo, không gặt, không có kho có lẫm, vậy mà Thiên Chúa vẫn nuôi chúng...Hãy nhìn hoa huệ mà suy: chúng không kéo sợi, không biết dệt vải, vậy mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salomon, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy " ( Lc 12, 24.27). b) Câu tục ngữ thứ hai đặt đặt hai trạng thái đối ngược giữa một người khờ dại rỗng không " lo tích trữ tất cả thóc lúa của cải mình vào trong đó " và một người khôn ngoan biết làm giàu nơi Chúa, khi Chúa Giêsu lên án không còn chạy chối đâu được đối với kẻ có ảo tưởng chỉ biết lo cho cuộc sống mình bằng của cải hay bằng danh dự phô trương bên ngoài: - " Ấy kẻ nào thu tích cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như vậy " ( Lc 12, 21). Trong những diễn biến tư tưởng được khai thác kế tiếp, Chúa Giêsu xác định rõ rằng của cải giàu có đích thực là " kho tàng tích trử trên trời ", kết quả của những gì mình với tâm tình thực hiện cho anh em, bố thí giúp đở cho anh em trong lúc khó nghèo của họ: - " Tốt hơn hãy bố thí những gì những gì ở bên trong, thì mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người " ( Lc 11, 41). - " Họ không có gì trả lại, và như vậy ông mới thật có phúc; vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại " ( Lc 14, 14). - " Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu " ( Lc 16, 9). Giáo Hội từ lúc ban đầu đã chú ý đến lời giảng dạy vừa kể đối với của cải trần thế và chính Thánh Luca trong sách Tông Đồ Công Vụ đã diễn giải ra thành biến cố có tính cách huấn dạy các tín hữu. Ví dụ như - " Ông Giuse, người được các Tông Đồ đặt tên là Barnaba, nghĩa là người có tài an ủi, có một thửa đất...Ông bán đất đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ " ( Act 4, 36-37), - " Có một người tên là Anania cùng với vợ là Saphira bán một thửa đất. Ông đồng ý với vợ giữ lại một phần tiền, rồi đem phần còn lại đặt dưới chân các Tông Đồ. Ông Phêrô mới nói: " Anh Anania, sao lại để Satan chiếm lòng anh, khiến anh lừa dối Thánh Thần, mà giữ lại một phần giá thửa đất ? " ( Act 5, 1-3). Hai mẫu gương vừa kể được dùng để dạy cho những người mới vào đạo một cách hành xử chính đáng với tài sản mình có, cách dùng của cải một cách tự do và dùng để thực hành đức bác ái, được kích thích bằng xác tín rằng mình thuộc về Nước Thiên Chúa, chớ không phải vì sợ hải thiếu thốn. 3 - Dụ ngôn diễn tả thực tế lời giảng dạy. Sau khi dùng hai câu tục ngữ để trả lời cho " một người trong đám đông " đề nghị Người làm vị quan toà hay người trung gian hoà giải cho vấn đề gia tài của anh ta, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để giải thích rõ một cách thiết thực: Dụ ngôn được khởi đầu bằng cách xác định một nhân vật " Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi ". Nhận vật được đề cập là một người giàu có, địa chủ, như thường là thành phần giàu có lúc đó ở Palestina, cho đến thế kỷ I sau Thiên Chúa Giáng. Sinh. Người địa chủ giàu có được gán cho tỉnh từ là người " điên rồ " bởi lẽ ông ta lẫn lộn giữa cuộc sống sung mãn được Chúa ban cho với mức giàu có của cải vật chất, thay thế niềm hy vọng của mình vào Chúa với sự thoả mãn trong giây lát việc thu hoạch mùa màn, khiến cho ông ta đang dự tính phải xây cất kho lẫm lớn hơn: - " Điên rồ, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ? " ( Lc 12, 20). Câu phán quyết của Chúa Giêsu không phải là câu nói với cái nhìn tiêu cực đối với của cải trần gian, mà Thiên Chúa đã dựng nên và Người hài lòng khi nhìn lại công trình tạo dựng của mình cho con cái loài người " là điều tốt đẹp " ( Gen 1, 4. 10. 12. 18. 21.25). Không, thế giới và của cải vật chất được Thiên Chúa dựng nên với lòng yêu thương lo lắng cho con cái mình có nơi ăn chốn ở khang trang, trước khi dựng nên con người, như người cha thương yêu lo lắng mọi tiện nghị cho con mình trước khi cậu bé, cô bé được sinh ra. Thế giới là điều tốt đẹp được Thiên Chúa dựng nên, bởi đó Thiên Chúa giáo không hề chủ trương khinh chê, lánh xa trần thế, " thoát tục", mà là con người, con cái của Thiên Chúa, được Người đặt vào thế giới " là điều tốt đẹp ", để cùng cộng tác với Người, chăm lo cho mình và cho anh em mình: - " Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Eden, để trồng trọt và canh giữ đất đai " ( Gen 2, 15). Có chăng câu nói của Chúa Giêsu là phán đoán tiêu cực câu độc thoại nội tâm của ông địa chủ giàu có: - " Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã ! " ( Lc 12, 19). Điều vừa kể cho thấy tội lỗi của ông ta không phải nằm ở chỗ vì ông ta giàu có, dư thừa của cải được Chúa dựng nên cho, cũng không phải vì ông ta lo lắng trồng trọt đất đai để sinh lợi cho mình và cũng lợi ích cho anh em mình," để trồng trọt và canh giữ đất đai". Chúa Giêsu không muốn cất đi khỏi bất cứ ai cảm thấy vui sướng vì công việc mình làm đem lại kết quả sung mãn và ngắm nhìn kết quả tốt đẹp của công sức, trí óc mình tạo ra. Điều làm cho con người có thái độ sai trái, đó là cách mà anh ta suy nghĩ và quyết định để chiếm hữu và cầm giữ của cải của mình: tích trử để mà tích trử nhằm hưởng thụ vô tận, " cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã ". Đây phải chăng là một loại nhà tù tâm lý lạnh lẻo, quanh đó không ai là những người anh em khác đang hiện hữu, và cò lẽ đang cần nhờ bàn tay rộng lượng của ông địa chủ giàu có trợ lực, để có điều kiện thoát khỏi cảnh cơ cực lầm than của mình. Thái độ của ông địa chủ giàu có là thái độ không còn coi Chúa là Cha yêu thương, có chăng là Đấng bảo đảm cho ông ta quyền tư hữu và mối liên hệ của ông ta với các người anh em nhân loại của mình là mối liên quan " hạ mục vô nhân ", hay có chăng là mối tương quan tranh chấp, càng bị loại trừ gạt ra bên lề được bao nhiêu, mình càng " chắc ăn " giữ được của cải bấy nhiêu. Qua những suy tư đó, chúng ta thấy được ý nghĩa của lời phán quyết của Chúa Giêsu: " Điên rồ ! ". Tỉnh từ vừa kể theo ngôn ngữ của Thánh Kinh là thái độ sống của kẻ coi Chúa như không có và cuộc sống của ông ta nằm trong quyền hạn của ông ta tha hồ định đoạt. Hơn nữa người địa chủ giàu có đã vất bỏ đi tư tưởng như là cái chết không có thể đến thình lình với bất cứ ai. Tiếng nói của Chúa Giêsu, " điên rồ ! ", là tiếng nói của Thiên Chúa cảnh cáo, phá tan đi ảo tưởng và nhắc cho chúng ta - " hỡi người hãy nhớ ngươi là tro bụi, ngươi sẽ hoàn về bụi tro !". Ý nghĩa của câu nói đó luôn nhắc cho chúng ta nhớ lại tính cách chóng qua của cải trần gian đối với cuộc sống con người. Như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô không đặt nặng giá trị của cải trần thế, không phải của cải là những gì ghê tởm, xấu xa, chẳng có một giá trị gì, cho bằng cuộc sống trần thế của chúng ta chóng qua đi, và có thể qua đi không biết lúc nào. Người tín hữu Chúa Ki Tô hãy biết dùng của cải trần thế mưu ích cho mình và trợ giúp anh em mình đáp ứng lại những lúc khó khăn túng thiếu và đó là thái độ biết sống, biết tạo mình gia tài sung mãn nơi Thiên Chúa, thay gì cắm đầu cắm cổ vào của cải trần gian, như người địa chủ giàu có " điên rồ ! ". Trên thực tế, câu khiển trách của Chúa Giêsu đối với người địa chủ giàu có trong dụ ngôn không có gì khác hơn là nhắc lại những gì đã được tư tưởng khôn ngoan lưu truyền: cái chết đến và cướp bỏ đi mọi tích lủy tồn trử vật chất với bao nhiêu năm suy nghĩ lo lắng mới đạt được của con người: - " Đừng sợ khi có kẻ phát tài, hoặc cửa nhà tăng thêm vẻ phong lưu, vì khi chết, nó đâu mang được cả, kiếp vinh hoa chẳng theo xuống mộ phần " ( Ps 49, 17-18). - " Có kẻ giàu vì vun quén và keo kiệt, và đây là phần thưởng của nó: Khi nó nói: " Tôi đã tìm được an nhàn, của tôi làm ra bây giờ tôi hưởng ", thì nó đâu biết thời gian mình sống còn bao lâu; nó sẽ bỏ lại của cải cho người khác và sẽ chết " ( Sir 11, 18-19). Cũng cùng trong một ý nghĩa, nhưng Thánh Phaolồ có cái nhìn tích cực hơn, khi ngài cho biết rằng chúng ta đã chết trong Chúa Ki Tô, khi chúng ta nhận Phép Rửa và cuộc sống của chúng ta vẫn còn đang ẩn giấu nơi Chúa Ki Tô trong Thiên Chúa. Hội nhập vào trong ý nghĩa cái chết vừa kể, dần dần chúng ta học hỏi được biết cách " trở nên giàu có trước nhan Thiên Chúa " và tình yêu của Người bao phủ cả thực thể chúng ta và cả những gì chúng ta có để biến tất cả thành cuộc sống tôn thờ, ngợi khen lòng nhân ái của Người. Tư tưởng vừa kể gíúp chúng ta nhớ lại lời khiển trách của tiên tri Isaia, trong hoàn cảnh thảm đạm đen tối lúc đó, khiển trách dân ngài đã có thói ăn cách ở một cách nhẹ lòng nhẹ dạ: - " Vậy mà chỉ thấy hoan hỉ vui mừng: mổ bò, giết chiên, ăn thịt, uống rượu: " Ăn đi, uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết " ( Is 22, 13). Ý nghĩa lời khiển trách của tiên tri Isaia được Thánh Phaolồ lấy lại, để nói với những ai không tin vào đức tin con người sẽ sống lại: - " Nếu vì những lý do phàm trần mà tôi đã chiến đấu với thú dữ ở Epheso, thì điều đó có ích gì cho tôi? Nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì chúng ta cứ ăn cứ uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết " ( 1 Cor 15, 32 ). 4 - Bối cảnh đưa đến lời giảng dạy hôm nay của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu khước từ tước vị của viên thừa phát lại hay của vị thẩm phán hoà giải, người vẫn giữ địa vị tối cao của vị Thầy và hướng dẫn các đệ tử mình có cách sống cần thiết phải có đối với của cải trần thế, nhưng đồng thời cũng là cách sống của con người tự do, con Thiên Chúa, sống trong tình yêu thương của Người và yêu thương anh em, như Người đã thương yêu mình. Trái với sự giàu có đối của cải trần thế, Chúa Giêsu đem đến cho các môn đệ Người sự giàu có nội tâm, không thấy được và ẩn giấu ( Bài đọc II ). Trong suốt Phúc Âm, Chúa Giêsu dạy chúng ta phương thức mới để tạo được kho tàng giàu có, bằng cách ban phát của cải mình cho anh em đang gặp lúc bất hạnh, như là dấu chứng ban tặng cả chính mính. Không phải chỉ đề cập đến từng động tác thực tế, mà là định hướng luân lý cho cả cuộc đời. Điều đó chỉ có thể thực hiện được đối với những ai biết lắng nghe lời Chúa và gặp gỡ được Chúa Giêsu, không phải chỉ là kết quả do ý chí quyết định, mà là kết quả của cả lý trí và con tim được Chúa Thánh Thần soi sáng. Phải chăng đó cũng là cuộc hành trình trần thế của Con Thiên Chúa, cuộc hành trình của tình thương? Điều đối nghịch không thể xoá bỏ được giữa " kẻ thu tóm tích trử của cải giàu sang cho mình " và " người làm giàu trước nhan Thiên Chúa " đã được Thánh Luca ghi lại ngay ở những trang đầu của Phúc Âm ngài, trong lời ca Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria: - " Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng " ( Lc 1, 53). Sự " điên rồ " hay cái nhìn thiển cận của người địa chủ giàu có trong dụ ngôn, và lắm khi cũng của cả chúng ta, đó là vì ông ấy và chúng ta thường hay quên đi rằng: - Thiên Chúa " dựng nên chúng ta giống hình ảnh Người " ( Gen 1, 27), ban cho chúng ta trí khôn ngoan và lòng ước muốn tự do, hạnh phúc vô tận, phản ảnh lại trí khôn ngoan và chính Người là nguồn hạnh phúc. Bởi đó giá trị giới hạn của tài sản vật chất và cuộc sống giới hạn trong thời gian không thể nào đáp ứng lại ước vọng vô hạn của con người. - Không những vậy, Chúa Giêsu Nhập Thể, còn nâng chúng ta lên địa vị " con Thiên Chúa ( Mt 6, 9). Cuộc sống của chúng ta là cuộc sống Cha con với Thiên Chúa, nên không có gì ở trần thế có thể làm thoả mãn được lòng ước vọng hạnh phúc vô tận của chúng ta. - Và hạnh phúc ước muốn vô tận đó, Thánh Phêrô nói cho chúng ta biết chính Thiên Chúa, chính cuộc sống Thiên Chúa Ba Ngôi của người, mà chúng ta đã bắt đầu nhận được từ ngày nhận Phép Rửa và sẽ tận hưởng vô tận trên thiên quốc với Người, mới có thể lấp đầy khoản trống khao khát hạnh phúc vô tận đó của chúng ta: * "Nhờ vinh quang và sức mạng ấy ( của Chúa Giêsu ), Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa..." ( 2 Pt 1, 4). Phẩm giá của người tín hữu Chúa Ki Tô là vậy, là " con Thiên Chúa, được thông phần vào bản tính Thiên Chúa ". Đừng nhắm mắt, bưng tai "điên rồ " như người đại địa chủ trong dụ ngôn. NGUYỄN HỌC TẬP |
Trở
về
|
|
|