Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 18 tháng 11 năm 2017

 Tìm hiểu
(10/09/2017 21:19 PM)
Chia sẻ tin:
PHÚC ÂM NHẤT LÃM (PHÚC ÂM ĐỒNG QUAN)
 
Hiến chế Tín Lý về Mạc Khải “Dei Verbum” (số 18-19) đã cho biết: “Trong mọi thời và khắp nơi, Giáo hội đã và đang quả quyết rằng bốn sách Phúc Âm bắt nguồn từ các Tông Ðồ. Thực vậy, những gì các Tông Ðồ rao giảng theo lệnh Chúa Ki-tô, sau này nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, chính các ngài và những người sống bên các ngài viết lại và lưu truyền cho chúng ta như nền tảng đức tin: đó là Phúc Âm trình bày dưới bốn hình thức: theo thánh Mat-thêu, thánh Mac-cô, thánh Lu-ca và thánh Gio-an. Mẹ thánh Giáo hội luôn luôn quả quyết lịch sử tính của bốn Phúc Âm, cũng như đã mạnh mẽ và liên lỉ xác nhận bốn sách Phúc Âm trung thành ghi lại những gì Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, khi sống giữa loài người, thực sự đã làm và đã dạy vì phần rỗi đời đời của họ, cho tới ngày Người lên trời (Cv 1, 1-2). Thực vậy, sau khi Chúa về trời, những gì Người đã nói, đã làm, thì các Tông Ðồ, sau khi đã được hiểu biết cách đầy đủ hơn, sự hiểu biết mà chính các ngài hưởng thụ được nhờ các biến cố vinh hiển của Chúa Ki-tô và ánh sáng của Thần Chân Lý, các ngài đã truyền lại cho những ai nghe các ngài.”
 
http://www.davidldishman.com/wp-content/uploads/2015/06/4evangel.jpg
Trong số 4 sách Phúc Âm do các Thánh sử để lại, thì có 3 cuốn được coi là đồng quan điểm soạn thảo, trình bày, nên gọi là “Phúc Âm Nhất Lãm”. Theo Bách khoa Toàn thư mở (Wikipedia): Phúc Âm Nhất Lãm (hay Phúc Âm Đồng Quan) là thuật ngữ để chỉ nhóm 3 sách Phúc Âm (do thánh Mat-thêu, thánh Mac-cô, và thánh Lu-ca biên soạn), vì chúng có những chi tiết hay quan điểm chung giống nhau. Điều mà các học giả Kinh Thánh đã tìm ra được là chúng có một dàn ý giống nhau, có thể xếp các chương, các mục thành ba cột song song để dễ dàng nhận ra những điểm tương đồng và dị biệt với nhau mà ở Phúc Ấm do thánh Gio-an biên soạn không có. Trước hết, xin được tìm hiểu bộ sách Tin Mừng Nhất Lãm, sau đó là sách Tin Mừng thứ tư do thánh Gio-an biên soạn.
 
I. SÁCH TIN MỪNG NHẤT LÃM:
 
Ngay từ thế kỷ II, truyền thống Giáo hội đã nhìn nhận các tác giả của ba cuốn sách Tin Mừng: Theo truyền thống thì thánh Mát-thêu, người thu thuế và là một thành viên trong nhóm mười hai Tông đồ (Mt 9, 9; 10, 3), đã viết cuốn thứ nhất tại Pa-lét-ti-na, cho những người Ki-tô hữu trở lại từ đạo Do Thái. Cuốn này, nguyên được sáng tác bằng tiếng Híp-ri, tức là tiếng A-ram, sau đó được dịch sang tiếng Hy Lạp.

Người viết cuốn thứ hai là thánh Mác-cô, một môn đệ ở Giê-ru-sa-lem (Cv 12,12), là người đã giúp đỡ thánh Phao-lô trong sứ mạng Tông đồ (Cv 12,25; 13,5.13; Plm 1,24; 2 Tm 4,11), đồng thời đã giúp đỡ người em họ của ông là thánh Ba-na-ba (Cv 15,37-39; Cl 4,10), cũng như đã giúp đỡ và truyền đạt giáo lý của thánh Phê-rô (1 Pr 5,13). Sách Tin Mừng thứ hai được viết bằng tiếng Hy Lạp.

Người viết sách Tin Mừng thứ ba là một môn đệ khác tên là Lu-ca, làm thầy thuốc (Cl 4,14), người gốc dân ngoại chớ không phải là gốc Do Thái như hai thánh Mát-thêu và Mác-cô (Cl 4,10-14). Lu-ca sinh tại An-ti-ô-ki-a, bạn đồng hành của thánh Phao-lô trong các cuộc hành trình truyền giáo thứ hai (Cv 16,19...) và thứ ba (Cv 20, 5...), cũng như trong cả hai lần vị này bị cầm tù tại Rô-ma (Cv 27,1... ; 2 Tm 4, 11). Như thế cuốn này có thể đã được viết dưới ảnh hưởng của thánh Phao-lô (2 Cr 8,18), giống như thánh Mác-cô chịu ảnh hưởng của thánh Phê-rô vậy. Nguyên tác Tin Mừng thứ ba được viết bằng tiếng Hy Lạp. Ngoài ra, Thánh Lu-ca còn viết một cuốn khác, đó là cuốn “Công vụ Tông Đồ”.

Có thể phác họa một cái nhìn tổng quát, về sự hình thành của ba sách Tin Mừng nhất lãm: Thoạt đầu, là lời rao giảng của các Tông đồ, loan báo hành trinh thực hiện sứ vụ cứu độ nhân loại của Chúa Ki-tô (từ lúc giáng trần mặc xác phàm, ở ẩn, đến thời gian công khai rao giảng Tin Mừng, chịu khổ hình chết treo trên thập giá và phục sinh vinh hiển). Lời rao giảng này (mà các bài giảng của Thánh Phê-rô trong sách Công vụ Tông đồ là những bài tóm lược tiêu biểu) thường được trình thuật lại một  cách chi tiết hơn:
           
a- Trước hết, đó là trình thuật về cuộc thương khó, vốn đã có một dạng theo mẫu có sẵn từ rất sớm. Sự trình thuật song song trong cả ba sách Tin Mừng chứng tỏ điều ấy.

b- Tiếp đến là những mẩu chuyện về cuộc đời Đức Giê-su. Những mẩu chuyện cho thấy rõ về con người, về sứ mạng, về quyền năng và về giáo huấn của Người qua một tình tiết, hoặc một Lời nói đáng nhớ, một phép la, một châm ngôn hay một dụ ngôn …

Từ nguồn gốc tông đồ, trực tiếp hoặc gián tiếp, tới việc hình thành bản văn của ba sách Tin Mừng Nhất Lãm, chứng thực cho giá trị lịch sử của chúng. Phát xuất điểm là lời rao giảng vốn có từ những cội nguồn của cộng đoàn tiên khởi, các sách Tin Mừng này, tự căn bản, đã có sự bảo chứng của những người mắt thấy tai nghe, đúng là cả các tông đồ lẫn những vị giảng thuyết cũng như những người kể chuyện khác, không ai chủ trương viết “lịch sử” theo nghĩa chuyên môn của từ này. Mục đích các tác giả nhắm tới là chuyển tải chuyện đạo hơn là kể lại chuyện đời. Sở dĩ họ lên tiếng chính là để cải hóa và xây dựng, để giáo dục và soi sáng niềm tin cũng như để bảo vệ niềm tin ấy trước những luồng tư tưởng đối kháng. Họ đã làm điều này dựa vào những lời chứng có thật và có thể kiểm chứng được, một phần là do lương tâm đòi buộc, một phần là để tránh những phản bác có thể có nơi những đối tượng thù nghịch.

Những người biên soạn sách Tin Mừng, tức là những người sau đó đã ghi lại và tập hợp các lời chứng của cộng đoàn Giáo hội tiên khởi, đã tiến hành công việc của mình một cách khách quan và theo lương tâm là tôn trọng các tài liệu gốc. Điều này được minh chứng qua tính cách đơn giản và cổ xưa trong trước tác của họ, trong đó có rất ít những đoạn khai triển mang tính cách thần học như sẽ thấy về sau (trong những đoạn thư của thánh Phao-lô, chẳng hạn). Tuy là khi tập hợp những dữ liệu, chứng liệu để biên soạn sách Tin Mừng, các tác giả không nhằm mục đích viết lịch sử, nhưng từ những công trình ấy, những yếu tố lịch sử quý giá lại được cung cấp một cách đầy đủ và khách quan.
           
Những truyền thống được hình thành từ sự can thiệp của cộng đoàn đã được thực hiện dưới sự chỉ đạo của những người có trách nhiệm. Cộng đoàn ấy chính là Giáo hội và những người có trách nhiệm kia chính là đại diện cho quyền giáo huấn buổi sơ khai của Giáo hội. Chúa Thánh Thần, Đấng đã linh hứng cho các tác giả sách Tin Mừng, đã chỉ đạo cho tất cả công trình soạn thảo đầu tiên này, cũng như đã hướng dẫn công trình ấy trong việc làm cho niềm tin phát triển cách tốt đẹp. Chính Người bảo đảm cho những kết quả của công trình ấy bằng đặc trưng không vụ vào tính vật chất của các sự kiện, mà là nhắm đến giá trị siêu việt về tinh thần thiêng liêng được Chúa thực hiện qua các sự việc ấy. Như vậy, Thánh Thần đã đặc biệt ban cho ba tác giả sách Tin Mừng được trình thuật sứ điệp chung, nhưng mỗi người theo một cách thức riêng: 
 
A.- SÁCH TIN MỪNG THEO THÁNH MÁT –THÊU:

Bố cục của sách được xây dựng thật công phu: Năm tập sách nhỏ nối tiếp nhau, tập nào cũng gồm những “Bài giảng” và bài giảng nào cũng đều được dẫn nhập bằng những sự việc mà tác giả đã khéo léo chọn lựa để chuẩn bị cho bài giảng. Điều này, cộng với các trình thuật về thời thơ ấu và về cuộc Thương khó và Phục sinh của Đức Ki-tô, tạo thành một tập thể hài hòa gồm 28 Chương trong 7 Mục (I, II, III, IV, V, VI, VII).

I. GIÁNG SINH VÀ THỜI THƠ ẤU CỦA ĐỨC GIÊ-SU (Ch. I-2)

II. CÔNG BỐ NƯỚC TRỜI (Ch. 3-5) 

1. Phần ký thuật (Ch. 3-4)
2. Bài giảng trên núi (Ch. 5-7)    
 
III. RAO GIẢNG NƯỚC TRỜI (Ch. 8-10)    
       
1. Phần ký thuật  (Ch. 8-9)            
2. Bài giảng về sứ mệnh truyền giáo  (Ch. 10)

IV. MẦU NHIỆM NƯỚC TRỜI (Ch. 11-12)  
     
1. Phần ký thuật (Ch. 11-12)        
2. Bài giảng bằng dụ ngôn (Ch. 13) 

V. GIÁO HỘI, BƯỚC ĐẦU CỦA NƯỚC TRỜI (Ch. 14-18) 
           
1.Phần ký thuật (Ch. 14-17)         
2. Bài giảng về Giáo hội (Ch. 18)  

VI. NƯỚC TRỜI: TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN GẦN (Ch. 19-23)     
 
1. Phần ký thuật (Ch. 19-23)        
2. Bài giảng về thời cánh chung (Ch. 24-25)    

VII. THƯƠNG KHÓ VÀ PHỤC SINH (Ch. 26-28)         
           
Nước Thiên Chúa (Nước Trời) phải được tái lập ở giữa loài người, bằng quyền năng tối thượng của Thiên Chúa với tư cách là Vua. Nước Trời đã được Cựu Ước chuẩn bị và loan báo. Chính vì vậy mà thánh Mát-thêu viết Tin Mừng giữa môi trường Do Thái và do người Do Thái, đã đặc biệt chú tâm minh chứng rằng trong con người và sự nghiệp của Chúa Giê-su, Thánh Kinh đã được ứng nghiệm. Ở mỗi khúc ngoặt của lịch sử cứu độ được trình thuật trong tác phẩm của mình, Thánh nhân đều dựa vào Cựu Ước để minh hoạ lề luật và lời các ngôn sứ đã được ứng nghiệm như thế nào:

a- Thánh Mát-thêu áp dụng điều này cho con người Đức Ki-tô bằng những bản văn Thánh Kinh, ngài quả quyết rằng Đức Giê-su thuộc dòng dõi vua Đa-vít (1,1-17), được một trinh nữ hạ sinh (1, 23) tại Bê-lem (2, 6), Người trốn sang Ai Cập, Người cư ngụ ở Ca-phác-na-um (4,14-16), Người vào thành Giê-ru-sa-lem ở với tư cách là Đấng Mê-si-a (21,5-16).

b) Thánh Mát-thêu còn áp dụng điều này cho sự nghiệp Đức Ki-tô chữa lành bệnh tật (11,4-15), lời giáo huấn làm cho lề luật nên ứng nghiệm trọn hảo (5,15.21-18; 19, 3-9.16-21).

Vì thế, người tín hữu khi suy niệm Tin Mừng hiểu được tại sao sách Tin Mừng này rất đầy đủ và có bố cục rất chặt chẽ, được viết bằng một giọng văn trong sáng, đã được Giáo hội thời sơ khai đón nhận và sử dụng với lòng quý trọng.
 
B.- SÁCH TIN MỪNG THEO THÁNH MÁC-CÔ:

Bố cục của sách Tin Mừng theo thánh Mac-cô bao gồm 16 Chương dàn theo 5 Mục (I, II, III, IV, V)   

I. GIAI ĐOẠN DỌN ĐƯỜNG CHO SỨ VỤ CỦA ĐỨC GIÊ-SU (Ch. 1)     
  
1-Ông Gio-an Tẩy Giả rao giảng 
2- Đức Giê-su chịu phép rửa           
3-Đức Giê-su chịu cám dỗ trong sa mạc    

II. SỨ VỤ CỦA ĐỨC GIÊ-SU TẠI GA-LI-LÊ (Ch. 1-6)   
                                  
1-Đức Giê-su khai mạc công việc rao giảng        
2- Đức Giê-su kêu gọi các môn đệ                      
3- Công việc giảng dạy và chữa bệnh tại Ca-phác-na-um và khắp miền Ga-li-lê.
 
III. NHỮNG CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA ĐỨC GIÊ-SU Ở NGOÀI MIỀN GA-LI-LÊ (Ch. 7-10)

1- Tranh luận về những truyền thống người Pha-ri-sêu 
2- Tiếp tục chữa bệnh và rao giảng Tin Mừng
3- Những điều kiện cần có để đi theo Đức Giê-su

IV. SỨ VỤ CỦA ĐỨC GIÊ-SU TẠI GIÊ-RU-SA-LEM (Ch. 11-13)
           
1- Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a
2- Thẩm quyền của Đức Ki-tô
3- Mạc khải về ngày cánh chung
 
V. CUỘC THƯƠNG KHÓ VÀ PHỤC SINH CỦA ĐỨC GIÊ-SU (Ch. 14-16)           

Những nét chính của sách Tin Mừng Mác-cô đã vẽ nên một tiến trình đáng ghi nhớ vì sự thật lịch sử và tầm vóc thần học của tiến trình ấy. Thoạt đầu Đức Giê-su đã được đám đông vui mừng đón nhận, nhưng rồi sứ mạng làm Đấng Mê-si-a khiêm hạ và thiêng liêng của Người đã khiến cho họ thất vọng và lòng phấn khởi của họ nguội dần. Bấy giờ, Đức Giê-su mới lánh xa miền Ga-li-lê để hoàn toàn chú tâm vào việc đào tạo nhóm các môn đệ trung thành mà Người đã được họ gắn bó với mình trong dịp tuyên xưng niềm tin ở Xê-da-rê Phi-líp. Đây là một bước ngoặt quyết định, từ bước ngoặt này mọi sự đều quy hướng về Giê-ru-sa-lem. Tại đây, tiếp theo sự chống đối ngày càng quyết liệt là cuộc thương khó mà cuối cùng Thiên Chúa đã kết thúc trong vinh quang: Đức Giê-su phục sinh.
           
Chính cái nghịch lý trong con người Đức Giê-su làm cho tác giả Tin Mừng thứ hai lưu tâm đến trước tiên, đó là Đức Giê-su bị loài người ngộ nhận và ruồng bỏ, nhưng lại là Đấng được Thiên Chúa sai đến và chiến thắng sự dữ. Sách Tin Mừng thứ hai không chú trọng mấy đến việc triển khai giáo huấn của Đức Ki-tô, nên chỉ ghi lại một số ít lời Người dạy. Chủ đề chính yếu của sách Tin Mừng này là sự biểu hiện của Đấng Mê-si-a chịu đóng đinh vào thập giá.

Một đàng, sách Tin Mừng giới thiệu Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa”, là “Đấng Mê-si-a”, ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đàng khác, sách Tin Mừng cũng nhấn mạnh đến sự việc xem ra như thất bại theo quan điểm loài người: đám đông dân chúng chế nhạo hoặc công phẫn (5,40; 6,2), các nhà lãnh đạo Do Thái tỏ ra thù địch (2,1; 3,6…), ngay cả các môn đệ cũng không hiểu Người (4,13...). Bao nhiêu là chống đối dẫn Người đến nhuc hình thập giá. Đó là điều chướng ngại mà sách Tin Mừng thứ hai kiên tâm giải thích, không chỉ bằng cách đặt nó đối diện với chiến thắng chung cuộc, nhưng còn bằng thánh chỉ cho thấy nó phải như vậy thể theo ý định nhiệm mầu của Thiên  Chúa Cha.
           
Thánh Mác-cô đã hiểu được cái thực tại sâu xa của cuộc đời đau khổ của Đức Giê-su và Người đã trình bày điều đó trong ánh sáng Đức Tin, một Đức Tin đã thực sự vững chắc nhờ sự kiện Phục Sinh vinh hiển, chiến thắng tội lỗi và sự chết muôn đời.  
 
C.- SÁCH TIN MỪNG THEO THÁNH LU-CA:

Giá trị đặc biệt của sách Tin Mừng thứ ba là cá tính rất hấp dẫn của tác giả không ngừng lộ ra trong sách. Thánh Lu-ca là một nhà văn có biệt tài và là một tâm hồn tế nhị, ngài mở đầu tác phẩm của mình một cách độc đáo, chú ý đến việc lấy tin và trật tự (“sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự rồi mới tuần tự viết ra” – Lc 1, 3). Điều này chứng tỏ Thánh nhân tôn trọng các tài liệu gốc và cách thức ngài chấp nối các tài liệu không cho phép ngài sắp xếp lại những chất liệu do truyền thống cung cấp theo một trình tự có “tính cách lịch sử”. Bố cục của ngài lấy lại những nét chính của bố cục sách Mac-cô, tuy có dời đổi hoặc bỏ bớt một vài chỗ: 

I. THỜI THƠ ẤU : ÔNG GIO-AN TẨY GIẢ VÀ ĐỨC GIÊ-SU SINH RA VÀ SỐNG ẨN DẬT.  (Ch. 1-2)                     
II. ĐỨC GIÊ-SU CHUẨN BỊ THI HÀNH SỨ MỆNH (Ch. 3)     
  
1- Ông Gio-an Tẩy Gủa rao giảng, bị bỏ tù và giết chết   
2- Đức Giê-su chịu phép rửa và chịu cám dỗ   

III. ĐỨC GIÊ-SU RAO GIẢNG TẠI MIỀN GA-LI-LÊ   (Ch. 4-8)      
         
1- Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và chữa bệnh tai Na-da-ret, Ca-phac-na-um, Giu-đê

2- Đức Giê-su thu nhận môn đệ, đến với người tội lỗi; tranh luận về truyền thống; giảng dạy về các mối phúc và các mối họa.

IV. ĐỨC GIÊ-SU LÊN GIÊ-RU-SA-LEM  (Ch. 9-17)     

1- Đức Giê-su giảng dạy về sứ vụ loan báo Tin Mừng, chữa bệnh.
2- Sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng
           
V. ĐỨC GIÊ-SU RAO GIẢNG TẠI GIÊ-RU-SA-LEM. (Ch.19-21)

1- Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a
2-Giảng dạy (bằng dụ ngôn) và tiếp tục chữa bệnh.
3- Bài giảng về ngày cánh chung
           
VI. CUỘC THƯƠNG KHÓ  (Ch. 22-23)  

1- Âm mưu hại Đức Giê-su
2- Cuộc chiến đấu quyết liệt

VII. SAU PHỤC SINH  (Ch. 24)    

Nếu tiếp tục tỉ mỉ so sánh sách Lu-ca với các tài liệu gốc mà ngài đã sử dụng hoặc với tài liệu được phản ánh qua 2 sách Tin Mừng (theo Thánh Mat-thêu, Mac-cô), sẽ thấy rõ năng lực hoạt động luôn tỉnh thức của một văn sĩ đại tài. Thật vậy, ngài sửa đổi một ít, thêm chỗ nọ bớt chỗ kia. Nhờ vào nhiều chỗ sửa đổi tế nhị và nhất là nhờ những tư liệu phong phú do ngài tự điều tra, thánh Lu-ca bộc lộ rõ ràng những phản ứng và ý hướng của chính tâm hồn mình. Nói đúng hơn, nhờ dụng cụ ưu tuyển này, Thánh Thần trình bày cho tín hữu một sứ điệp Tin Mừng vừa phong phú về dữ kiện, vừa ưu việt về đạo lý. Đàng khác, tác giả nhấn mạnh đến chủ đề thần học lớn (các ý tưởng chủ đạo vẫn là những ý tưởng thấy ở hai sách Mác-cô và Mát-thêu) bằng một tâm thức tôn giáo, ở đó thấy rõ được những khuynh hướng của tính cách Phao-lô mà thánh Lu-ca chịu ảnh hưởng.
 
D. SÁCH TIN MỪNG THEO THÁNH GIO-AN
           
Câu kết thứ nhất của sách Tin Mừng theo thánh Gio-an (“Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” – Ga 20, 31) nói lên bản chất và chỗ đứng của sách Tin Mừng này về phương diện văn chương, giống như lời rao giảng xưa nhất của Giáo hội. Đây vẫn còn là một sách Tin Mừng công bố về sứ mệnh “Mê-si-a” và về nguồn gốc Thiên Chúa của Đức Giê-su. Vì thế, mặc dù có những yếu tố chứng tỏ sách được sáng tác khá muộn, sách Tin Mừng thứ tư vẫn phù hợp với lời rao giảng của thời kỳ nguyên thủy Ki-tô giáo. Thật vậy, sách đã minh hoạ cấu trúc và những nét chính của lời rao giảng này, đó là:

I. LỜI TỰA (Ch. 1)

II. SỨ VỤ CỦA ĐỨC GIÊ-SU

1. Loan báo nhiệm cục mới – Tuần lế khai mạc (Ch. 1-4)
2- Lễ thứ hai tại Giê-ru-sa-lem (Ch. 5)
3- Lễ Vượt Qua – Diễn từ về Bánh Trường Sinh (Ch. 6)
4- Lễ Lều (Ch. 7-9)
5- Cung hiến Đền thờ (Ch. 10)
6- Sứ vụ công khai của Đức Giê-su kết thúc (Ch. 11-12)

III. GIỜ CỦA ĐỨC GIÊ-SU: LỄ VƯỢT QUA CỦA CHIÊN THIÊN CHÚA

1- Bữa ăn cuối cùng của Đức Giê=su và các môn đệ (Ch. 13-17)
2- Cuộc Thương khó  (Ch. 18)
3- Ngày Phục sinh (Ch. 20)

IV. ĐOẠN CUỐI – KẾT LUẬN (Ch. 21)

Tác phẩm của thánh Gio-an có những nét riêng, khiến tác phẩm ấy khác hẳn so với các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Nhưng không chỉ có thế, sách Tin Mừng thứ tư còn muốn làm nổi bật ý nghĩa của cuộc đời, lời nói cũng như việc làm của Đức Giê-su. Sách Tin Mừng thứ tư mang một dấu ấn phụng tự và bí tích, chính trong khung cảnh của đời sống phụng vụ Do Thái mà cuộc đời của Đức Giê-su đã trải qua; chính trong mối liên hệ với những ngày lễ chính yếu và thường là trong nhà thờ nơi Người làm phép lạ cùng giảng dạy những bài quan trọng. Vả lại, chính Người cũng dạy rằng Người là trung tâm của một tôn giáo được canh tân “theo Thần Khí và sự thật” (Ga 4,24). Vì thế, cuộc đời của Đức Giê-su đã được quan niệm song song với mầu nhiệm Ki-tô giáo, mầu nhiệm mà người tín hữu đang sống trong nghi thức Phụng tự và trong các Bí tích.

Rõ ràng, sách Tin Mừng thứ tư là một tác phẩm gần gũi với hình thức rao giảng nguyên sơ nhất của Ki-tô giáo, đồng thời cũng là đỉnh tới của sự cố gắng không ngừng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, nhằm hiểu biết sâu xa và rõ ràng hơn về mầu nhiệm của Đấng Cứu Độ giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết đời đời. Kiểu nói của Thánh Gio-an (“Việc phán xét đã khởi đầu ngay từ bây giờ trong sâu thẳm tâm can”, hoặc “Sự sống đời đời đã đạt được ngay từ bây giờ trong Đức tin”) đã hiện thực hoá và nội tâm hoá mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Thập Giá và mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô. Ngoài ra, Thánh Gio-an còn là tác giả sách “Khải Huyền” (mở sự huyền bí ra) trình thuật về những thị kiến mạc khải mà chính thánh nhân đã nhận được từ Thiên Chúa. Đồng thời, thánh nhân còn cò 3 thư gửi tín hữu (xc. Ga 1, Ga 2 và Ga 3) để rao giảng Tin Mừng.
 
III. KẾT LUẬN:
 
Tóm lại, 4 sách Tin Mừng, tuy rằng do 4 Tông đồ biên tập và có những phong cách riêng về văn phong, về bố cục, về cách diễn đạt; nhưng tựu trung, tác giả chính yếu vẫn chỉ có một: đó chính là Chúa Thánh Thần. Chính Thần Khí Chúa đã linh hứng, soi sáng, hướng dẫn và thúc đẩy các Thánh sử  trong các tác phẩm trình thuật Tin Mừng. Và vì thế, nếu nhìn theo quan điểm nhân sinh, thì như đã phân tích ở trên, chỉ có 3 sách Tin Mừng (theo thánh Mát-thêu, Mac-cô, Lu-ca) được coi là “Tin Mừng Nhất Lãm” (chung một cách nhìn vào Tin Mừng); nhưng nhìn theo quan điểm siêu linh thì cả 4 sách đều tập trung trình thuật công trình cứu độ của Thiên Chúa được chính Ngôi Lời thực hiện; và vì thế, có thể coi cả 4 sách Tin Mừng là “Phúc Âm Nhất Lãm” (hay “Phúc Âm Đồng Quan”), và có thể khẳng định đó là “Tin Mừng Nhất Quán” vậy.
 
JM. Lam Thy ĐVD.
 Trở về
Các bài viết khác:
Ơn Đại xá “Portiuncula” (31/07 20:57:13 PM)