Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 22 tháng 10 năm 2017

 Suy niệm - Chia sẻ: Lời Chúa - Các bài khác
(28/09/2017 02:55 AM)
Chia sẻ tin:
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM A (01/10/2017)
(Ed 18,25- 28; Pl 2,1- 11; Mt 21,28- 32)
(KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI)
[Cv 1,12-14; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38]


HÀNH ĐỘNG TỐT THẮNG CÂU NÓI HAY
 

Ngày nay, người ta đề cao vai trò của “thế giới kỹ thuật số”. Vì thế, họ vận dụng ngành kỹ thuật như một phương tiện tối ưu cho vấn đề quảng bá trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, khi ngành kỹ thuật phát triển, họ đã không ngừng “kỹ xảo hóa” để làm bắt mắt người tiêu dùng và khai thác sự tò mò của người dân. Từ đó, tính gian trá trong lãnh vực này cũng leo thang. Nhiều người đã bị những viên: “Thuốc đắng bọc đường” đánh lừa. 

Còn trong lãnh vực cuộc sống nhân sinh, con người ngày nay cũng đang phải đối diện với thực trạng tốt - xấu lẫn lộn. Khó có thể biện phân được đâu là người chân tình; đâu là người dối trá; đâu là người xây dựng, đâu là người phá hủy! Lý do là vì họ được bao bọc bởi cái mã bên ngoài rất tinh vi, quỷ quyệt!

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã đưa ra hai hạng người tốt - xấu; thật - giả thông qua hình ảnh trong dụ ngôn: “Hai người con”, để nhằm giúp cho mọi người hiểu rằng: giá trị đích thực không phải ở chỗ nói nhiều, nhưng là thi hành đúng. Không phải ở chỗ nịnh hót, mà là toàn bộ đời sống của người đó có “ngôn hành đồng nhất” hay không.


1. Ý Nghĩa dụ ngôn


Khởi đi từ sách tiên tri Isaia giới thiệu về cách hành xử của Thiên Chúa như sau: “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,9), bởi vì: “... tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8).

Thật vậy, đường lối của Thiên Chúa thì khác xa với đường lối và tư tưởng của con người. Với chúng ta thì dễ nhìn về quá khứ và đóng khung trong đó như một định luật bất di bất dịch, hầu kết án hay khoan hồng. Nhưng với Thiên Chúa thì Người nhìn và hướng về tương lai để mong sao cuộc đời của mỗi người được tốt đẹp hơn và có cơ hội trở lại. Tuy nhiên, tiêu chuẩn để đạt được điều hoàn thiện lại không phải phụ thuộc vào lời nói, mà là nơi hành động.

Để làm sáng tỏ vấn đề trên, Đức Giêsu đã đưa ra hai hình ảnh của hai người con được cha sai đi làm vườn nho. Người thứ nhất không đi, nhưng sau lại đi. Người con thứ nhận đi, sau lại không đi.

Hình ảnh đứa thứ nhất được Đức Giêsu ám chỉ là những người tội lỗi, thấp cổ bé họng, bị xã hội ruồng bỏ. Họ là những người dân ngoại, thu thuế và gái điếm, bị người Dothái khinh miệt. Vì thế, họ không dám tham gia vào công việc làm vườn của người cha, nhưng sau khi hiểu được lòng tốt của cha, họ đã sám hối, an tâm, can đảm và vui vẻ thi hành cách trung thực.

Còn đứa thứ hai là hình ảnh đại diện cho những Thượng tế, Kỳ lão, Luật sĩ và Pharisêu Dothái. Những người này luôn luôn tự hào mình là con cái Tổ Phụ Abraham, dòng dõi các Tiên tri và là những người trung thành với  luật Maisen. Vì thế, cái vé vào Nước Trời là chắc chắn. Họ coi các dân tộc khác là những hạng người bị ruồng bỏ, là đứa con hoang, những hạng người như thu thuế, gái điếm thì khái niệm Nước Trời cũng không thể hiện hữu trong tâm tưởng phương chi nói gì đến việc đụng chạm đến ơn cứu độ!

Vì sẵn có tính tự kiêu, tự coi mình là con cưng, được ưu tuyển. Nên ban đầu, họ cũng nhận cho hài lòng người cha, nhưng vì kiêu ngạo, tự mãn, họ lại không làm. Điều này cho thấy, họ thuộc hạng người nịnh hót, nói một đàng, làm một nẻo.

Kết cục, Đức Giêsu phán: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” (Mt 20, 16a); bởi vì: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21,31). 

Đó là câu chuyện Tin Mừng thời Đức Giêsu, nhưng ngày nay, điều đó có còn không?


2. Thật giả vẫn luôn tồn tại


Chỉ cần ngồi lại để suy nghĩ một chút, chúng ta thấy hiện lên trong đầu rất nhiều tình huống thật giả, tốt xấu lẫn lộn đan xen quá nhiều. Nhất là trong lãnh vực quảng cáo. Họ tuyên truyền, thổi phồng tin tức và sự kiện để làm hấp dẫn điều muốn nói. Hay trong lãnh vực Marketing, người ta quảng bá những sản phẩm chất lượng tối ưu, bán chạy như tôm tươi, nhưng thực chất rất nhiều thứ là hàng giỏm, hàng giả. Đôi khi điều đó là hành vi của những người xung quanh. Nhưng cũng không chừng, đó lại là của chính chúng ta!        
                   
Căn bệnh giả dối” là đầu mối sinh ra những  xói mòn về đạo đức và niềm tin của con người, từ đó phát sinh ra những suy thoái về giá trị tinh thần, nhất là làm lu mờ lương tâm.

Điều đáng nói là sự giả dối nó lan tràn và gần như là chuyện bình thường trong xã hội, nếu không muốn nói là nó đã trở nên “ông chủ tồi” chỉ đạo cuộc sống! Vì thế, nhiều khi muốn sống lương thiện cũng khó, làm người tử tế trong bối cảnh hiện nay không dễ!

Tại sao vậy? Thưa! Bởi vì bậc thang giá trị không còn phụ thuộc vào sự thật nữa, cán cân công lý được điều chỉnh bằng tiền, quyền. Gian dối là bình thường, thật thà lại là bất thường, là ngu dốt, là kém cỏi.... Vì thế, người ta thường có câu nói mỉa mai như sau: “Chân lý, chân giò cùng một giá”; “Lương thực, lương tháng và Lương Tâm bằng nhau”.
 
Thật vậy, nếu ai đóng kịch giỏi và giống thì sẽ được tôn vinh, kính trọng. Kẻ vô tài, thất đức, lẻo mồm, tâng bốc, nịnh hót thì lên như diều, để rồi “làm láo, báo cáo hay”.Trong khi đó, người sống liêm chính thì sẽ phải chịu thân phận: “Thật thà thẳng thắn thì thường thua thiệt”.

Vì thế, không thiếu gì cảnh: “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao” (Truyện Kiều). Những người này thường dùng chiêu thức: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa che lại”, vì thế, họ ưa sống hào nhoáng bên ngoài nhưng thực chất bên trong trống rỗng. Họ thuộc hạng người: “Khác nào quạ mượn lông công. Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa” (Ca dao), nên không sớm thì muộn, họ bị đặt nghi vấn: “Trông anh như thể sao mai, biết rằng trong có như ngoài hay không?” (Ca dao).

Đứng trước thực trạng như thế, nhiều khi chúng ta thông cảm với cảm thức của người Việt là thích ứng và tùy nghi. Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta không thể sống kiểu: “Gió chiều nào che chiều đó, để làm trái, đi ngược lại với đạo lý của Tin Mừng, nghịch với Lương Tâm ngay thẳng. Khi sống như thế, ta chẳng khác gì một cây tầm gửi, hay ký sinh trùng ăn nhờ ở đợ người khác, nên khi họ bị thất thế, ngã gục thì cũng chết theo.

Là người Kitô hữu, chúng ta phải nằm lòng câu nói sau: “Mất tiền là mất ít, mất người là mất nhiều, nhưng mất niềm tin là mất tất cả!”. 


3. Hiểu và sống sứ điệp Lời Chúa


Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở về đường ngay nẻo chính để được hạnh phúc, bằng không sẽ phải chết trong sự thất vọng.

Lời Chúa hôm nay còn mời gọi chúng ta cần loại bỏ tư tưởng đạo đức giả và cho mình thuộc hàng công chính, rồi sống trong sự tự mãn, kiêu căng. Đừng mang danh là Kitô hữu, nhưng thực tế không có “chất Kitô”. Cũng không được có thái độ tự ti để rồi tự nhận mình thuộc hàng “thu thuế và đĩ điếm” để buông xuôi trong sự thất vọng. Luôn có tinh thần sám hối, quay trở về với Chúa.

Mong sao tất cả chúng ta, mỗi người luôn ý thức rằng mình là người Kitô hữu, là người thuộc về Chúa, về sự thật, nên: “Có thì nói có, không thì nói không,  thêm thắt là do ma quỷ mà ra”.  Thực hành lập trường “ngôn hành đồng nhất”, nếu không sẽ dễ dẫn đến tình trạng “mâu thuẫn nội tại” như những người: “Nói thì đâm năm chém mười, đến khi tối trời chẳng dám ra sân” (Tục ngữ).
 
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được thuộc về sự thật và trở nên chứng nhân cho sự thật, bởi vì chỉ có sự thật mới giải thoát được chúng con mà thôi. Amen.

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP

Ai đi, ai không?
 

Mt 21,28-32 – CN. XXVI TN
 
Thơ hát vọng trên đồi cao chân lý
Bay bổng ngọt ngào ngây ngất trăng sao
Bầu trời trong thẹn kém vẻ thanh tao
Nhạc ngân vang tim thời gian rung động.
 
Bên bến đời
Nghe lời Thầy một chiều vàng thơ hát
Có người cha đến gọi hai con trai
Mênh mang chân lý nơi trình thuật
Làm vườn nho sắm sửa lấy tương lai.
 
Cha vào dòng đời, gọi người con thứ nhất
“Con đến làm vườn nho, giúp giùm cha!”
Anh ngượng nghịu, cúi đầu “Con không muốn.”
Hút bóng cha, tim rối vỡ lệ nhòa…
 
Vườn nho tắm hương chiều anh lặng lẽ
Vươn tay chai lao nhọc chạm hôn hoàng
Cuốc lật mặt đời say cuồng đất
Gạt mồ hôi, kéo nắng, đuổi thiều quang…
 
Bên bến đời
Hy vọng người con thứ hai, cha mời gọi
Vội vàng thưa, anh nói “Dạ, con đi!”
Câu thơ ngã đập vào vách đá
Nát tan tình, chân lý vỡ. Anh không đi!
 
Giê-su hạ giọng, Thầy lại hỏi
“Vâng lời cha, ai đấy, hai người con?”
Bến đời lộng tiếng hồ hởi đáp
“Người thứ nhất!
Mồ hôi đẫm đất hóa vàng son!”
 
Thầy Chân Lý vạch tỏ tường ý nghĩa
“Lời đầu môi giá trị nhẹ hơn bông
Ông Gioan đến, hướng dẫn đường chân lý
Cứng lòng, vô tín, đấy các ông!”
 
Câu thơ nghiêng ngả rồi đứng hát
Nhạc reo lên trên những ngọn gai hồng
“Này kìa, thu thuế và gái điếm
Nghe Gioan thống hối tận đáy lòng!”
 
Thượng tế vênh vang mình thánh chức
Kỳ mục vai nhún tự hào công
Đâu biết dòng đời luôn đảo lộn
“…Nước Trời rộng mở, trước các ông!”
 
Anna Võ Thị Anh Đào

LỜI NÓI ĐI ĐÔI VỚI VIỆC LÀM
 
Cũng đã hơn một lần kẻ viết bài này nhắc tới những người hay đem thuyết định mệnh để bào chữa cho lối sống của mình. Cái gì cũng do “Trời định”, “Chúa định” hết, con người từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi bị trói chặt vào số mệnh, không còn một chút tự do. Họ cho rằng con người giàu hay nghèo, hạnh phúc hay đau khổ, nhàn rỗi hay vất vả, tất cả đều đã được ông Trời tiền định từ trước khi con người được sinh ra ở trần gian (“Ngẫm hay muôn sự tại trời, Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao.” – Truyện Kiều – Nguyễn Du). Theo triết học thì “Thuyết định mệnh” (determinism, providence) là một quan niệm cho rằng quá trình lịch sử thế giới, kể cả đời sống con người đều được quy định từ trước bởi một ý chí tối cao, bởi số kiếp, số phận. Con người dù muốn hay không cũng không thể tránh được. Do đó chỉ còn có thể có thái độ cam chịu. Trong thế giới cổ đại, quan niệm này được lưu hành rộng rãi và theo nó, số kiếp chẳng những thống trị con người, mà còn thống trị cả các thần linh.

Nói chung, trong lịch sử, “Thuyết định mệnh” đóng vai trò tiêu cực. Một mặt, quan niệm số kiếp quy định từ trước đã kích thích thái độ thụ động, sự phục tùng mù quáng vào hoàn cảnh. Mặt khác, lòng tin vào quyền lực vô hạn của ý chí tối cao, của Thượng đế, đã gây ra sự cuồng tín có tính chất tôn giáo. Quả thật, nhìn vào tôn giáo cũng thấy không ít luồng tư tưởng cho rằng tất cả mọi sự lớn nhỏ thuộc về con người đều được Thượng đế sắp đặt sẵn. Với Ki-tô giáo thì vì thấy những sự kiện, biến cố xảy ra trong Tân Ước đều đã được tiên báo từ Cựu Ước và chính Đức Giê-su cũng luôn luôn nói những việc Người làm đều “ứng nghiệm lời Kinh Thánh, lời các ngôn sứ từ Cựu Ước”, nên nhiều người cũng cho rằng tất cả cuộc sống con người ở trần gian đều đã được Thiên Chúa quan phòng “tiền định”. Từ đó nảy sinh quan niệm cho rằng cái gì cũng do Chúa định, Chúa an bài (giống như thuyết định mệnh cho rằng tất cả đều do Trời định). Thậm chí có những người sống cuộc đời không lương thiện, đến lúc nhà tan cửa nát, bị tù bị tội, thì lại đổ thừa “Chúa định cho tôi như vậy”. Để giải tỏa bớt những quan niệm yếm thế, tiêu cực đó, có lẽ cần phải hiểu vấn đề một cách thiết thực hơn:

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã giải thích về Thiên Chúa quan phòng: “Sự quan phòng chính là Thiên Chúa lo liệu với sự khôn ngoan và tình thương để dẫn đưa mọi thụ tạo tới cùng đích tối hậu của chúng.” (GL/HTCG, số 321); “Đức Ki-tô mời gọi chúng ta phó thác với tâm tình con thảo vào sự quan phòng của Cha trên trời (Mt 6, 26-34). Thánh Phê-rô cũng nhắc: "Mọi lo âu, hãy trút cả cho Người vì Người chăm sóc anh em" (1Pr 5,7; Tv 55,23)” (GL/HTCG, số 322); “Thiên Chúa quan phòng cũng hành động qua hành động của các thụ tạo. Thiên Chúa cho con người được tự do cộng tác vào các kế hoạch của Người.” (GL/HTCG, số 323). Điều đó cho thấy Thiên Chúa quan phòng sắp xếp cho con người có mặt ở trên đời, ban cho nhiều ơn lành để sống xứng đáng là con Thiên Chúa “được tự do cộng tác vào các kế hoạch của Người”, đồng thời Người còn ban Thần Khí soi sáng cho con người biết luôn can đảm để “làm lành lánh dữ”. 

Thật là mầu nhiệm, ngay cả những hành động gian ác của con người cũng không ra ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa. Một cách nào đó, chỉ có mình Thiên Chúa biết, Người cho phép có sự ác nhưng cuối cùng Người xoay chiều cái ác thành cái thiện (St 50, 20). Mầu nhiệm này đạt đến đỉnh điểm trong cái ác lớn nhất mà con người đã làm: đó là giết Người Con chí ái của Thiên Chúa trên Thánh giá. Thiên Chúa đã biến đổi hành động này thành sự thiện. Sự kiện này đã được Giáo lý HTCG (số 312) xác nhận: “Thiên Chúa trong sự quan phòng toàn năng có thể rút sự lành từ hậu qủa của một sự dữ, cho dù là sự dữ luân lưu do thụ tạo gây nên: "Giu-se nói với anh em: không phải các anh đă đưa đẩy tôi đến đây nhưng là Thiên Chúa, ... sự dữ mà các anh đă định làm cho tôi, ý định của Thiên Chúa đă chuyển thành sự lành... để cứu sống một dân đông đảo." (St 45, 8; 50, 20). Từ việc Ít-ra-en chối bỏ và hạ sát Con Thiên Chúa là sự dữ luân lý lớn nhất chưa từng có do tội lỗi của con người gây nên, Thiên Chúa đă rút ra được sự lành lớn nhất do sự sung mãn của ân sủng (Rm 5, 20): Đức Ki-tô được tôn vinh và chúng ta được cứu chuộc. Tuy nhiên không vì thế mà cái xấu trở thành cái tốt được.”

Còn vấn đề tiền định ở đây cũng không phải là định mệnh. Tiền định chỉ có nghĩa là Thiên Chúa biết trước (tiên liệu) và đưa ra quyết định ứng phó, hóa giải (Vd: Khi dựng nên loài người và ban cho sự tự do, Thiên Chúa đã tiên liệu con người sẽ phạm tội, nên Người hoạch định công trình cứu độ và cho con người được cộng tác vào công trình ấy, như trường hợp Đức Maria được tiền định làm Mẹ Thiên Chúa và đồng công cứu chuộc nhân loại). Giáo lý HTCG (số 1037) dạy: "Thiên Chúa không tiền định cho ai xuống hỏa ngục. Ai tự ý lìa bỏ Thiên Chúa bằng một tội trọng và chai lì đến cùng, sẽ phải xuống hỏa ngục. Trong phụng vụ Thánh Thể và trong kinh nguyện hằng ngày của tín hữu, Hội Thánh khẩn cầu Thiên Chúa từ bi, Ðấng "không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải (2 Pr 3, 9)”. Con người là thụ tạo nhưng được hoàn toàn tự do sống theo ý mình, không hề bị ép buộc theo một khuôn khổ định sẵn.

Vấn đề con người được tư do đã được Công Đồng Va-ti-ca-nô II – thông qua Hiến chế về Mục Vụ “Gaudium et Spes” – khẳng định: “Chỉ trong tự do con người mới có thể hướng về sự thiện ... nhân cách con người đòi con người phải hành động theo sự chọn lựa có ý thức và tự do ...” (GS, số 17); “Vì nhờ những phẩm cách nội giới của mình, con người vượt trên toàn thể mọi thứ vật chất. Con người chỉ thấu triệt thực thể này khi nào con người đi vào trái tim mình, Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn, đang chờ đợi con người nơi trái tim họ; tại đó chính con người tự định đoạt lấy vận mệnh mình dưới mắt Thiên Chúa” (GS 14); “Tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất hình ảnh Thiên Chúa trong con người” (GS 17). Rõ ràng Thiên Chúa sáng tạo con người theo “hình ảnh Thiên Chúa.” (St 1,26) là đã cho con người được hoàn toàn tự do. Một bằng chứng hiển nhiên: Vì con người được hoàn toàn tự do nên mới làm theo sự cám dỗ của ma quỷ để sa vòng tội lỗi (St 3,1-24).

Quả thực vấn đề số mệnh, định mệnh đã làm khổ con người không ít. Người Ki-tô hữu lại càng cần phải hiểu thấu đáo vấn đề. Không bao giờ có chuyện “Chúa định cho tôi phải thế này, phải thế kia, phải tán gia bại sản, phải vào tù, phải bán vợ đợ con v.v… và v.v…”. Con người được hoàn toàn tự do lựa chọn cho mình một con đường sống “hoặc làm tôi Thiên Chúa hoặc làm tôi tiền của vật chất” (Mt 6, 24; Lc 16, 13). Đọc và suy niệm bài đọc 1 hôm nay (CN XXVI/TN-A – Ed 18, 25-28), vấn đề sẽ được khai thông. Vâng, nếu tất cả đều do “Trời định”, “Chúa định”, thì sao lại có vụ một người công chính đi làm điều gian ác để đến nỗi phải chết? Còn kẻ gian ác thì “từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh” để “chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết”? Cuối cùng thì chính Thiên Chúa lại nói: “Quả thật, Ta không vui thích gì về cái chết của kẻ phải chết - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Vậy hãy trở lại và hãy sống.” (Ed 18,32).

Chúa có định cho một người công chính mà lại “theo đòi kẻ gian ác làm mọi điều ghê tởm” hay không? Hoàn toàn không, trăm ngàn lần không. Hắn đã tự ý làm vì bị mê hoặc, cám dỗ mà hắn không tự biết. Khi hắn bị hình phat, Thiên Chúa cũng chẳng vui gì, mà trái lại nữa là khác. Còn đối với kẻ gian ác, Chúa cũng chỉ khuyên bảo răn đe, hoàn toàn không ép buộc phải thế này hay thế khác. Khi kẻ gian ác hiểu ra những sai phạm của mình, sẵn sàng từ bỏ điều dữ mà thi hành điều công minh chính trực; được như vậy, nó sẽ sống, tất nhiên. Chính vì thế, nên Thiên Chúa mới mời gọi và khuyên răn: “hãy trở lại và hãy sống”. Cho nên có thể nói, con người đã tự định đoạt số phận của mình. Chẳng ai bắt anh phải làm thế này, buộc anh phải sống thế kia, tất cả đều do anh tự chọn và quyết định cho cuộc đời của mình.

Tiếp tục suy niệm bài Tin Mừng hôm nay trình thuật dụ ngôn “Hai người con” (Mt 21,28-32), thấy rõ hai người con này tự quyết định theo ý mình trước lời kêu gọi của người cha. Người con thứ nhất lúc đầu thì từ chối, nhưng sau đó lại vào làm, còn người thứ hai thì mau mắn nhận lời nhưng sau đó lại không đi. Đọc tới đây, ai cũng hiểu ngay con người sống trên đời luôn có tự do và Thiên Chúa tôn trọng sự tự do đó của con người. Chính người con thứ nhất, cứ tưởng anh ta sẽ không đi làm theo ý cha vì anh ta đã thẳng thắn từ chối, nhưng rồi anh lại đi. Còn người con thứ hai thì mau mắn đáp lời cha, ai chẳng cho rằng anh ta sẽ thi hành ý cha cách tốt đẹp, vậy mà rốt cuộc thì lại trốn tránh. Cá hai trường hợp đều rơi vào cảnh “ngôn hành bất nhất” (lời nói và việc làm không thống nhất với nhau), nhưng xét cho cùng, người con thứ nhất mới là người đáng để cho người khác học hỏi.

Sở dĩ Đức ki-tô kể dụ ngôn “Hai người con” cũng bởi vì đám thượng tế và kỳ mục Do Thái vặn hỏi Đức Giê-su về quyền bính của Người (Mt 21,23-27). Kể dụ ngôn, nhưng Đức Giê-su không kết luận, mà đặt câu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” (Mt 21,31) để người nghe tự đưa ra kết luận. Đáng lẽ Đức Giê-su căn cứ vào câu trả lời của nhóm người này, dạy bảo họ “hãy trở lại và hãy sống”, thì Người lại nói tới bọn gái điếm và thu thuế vốn bị coi là tội lỗi, là những người sẽ “vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.” (Mt 21,31-32).

Quả thật đây là một cái tát cực mạnh vào đám người huênh hoang tự phụ, hay đứng ở ngã ba ngã tư, khua chiêng đánh trống (Mt 6, 1-6); hoặc thích “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy… đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi". (Mt 23,2-7) Đó là những tên lẻo mép, chỉ biết nói mà không thèm làm, hệt như người con thứ hai trong dụ ngôn ("Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu!" – Mt 7,22;  “Bấy giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm.” – Mt 23,1-3).

Chung quy thì cũng chỉ vì anh nói thì hay lắm, rất hay; nhưng anh lại không làm được đúng như điều anh đã nói. Một cách cụ thể, anh không tin vào những điều anh nói – không tin cả chính mình – như vậy thì sao có thể gọi là những người đi nói cho kẻ khác tin? Còn người thu thuế và gái điếm, thì vì họ biết nhìn lại mình, biết mình là người tội lỗi và biết tin vào người chỉ dẫn cho mình đường ngay lẽ phải, chính nhờ vậy mà họ thành công. Thật rõ ràng như hai với hai là bốn: “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.” (Ed 18,26-27).

Ôi, lạy Chúa! Chẳng phải nói ai khác, mà chính bản thân con, từ trong sâu thẳm lòng mình, cũng đã hơn một lần con thèm muốn được như đám thượng tế, kỳ mục, kinh sư Do Thái, cho dù sau đó có bị án phạt thì cũng cam lòng (“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, Còn hơn buồn le lói suốt năm canh” – Xuân Diệu). Thế đấy! Con cũng chỉ là một con người tầm thường, bé nhỏ, mỏng giòn, chỉ biết suy tính theo cái tư tưởng bất toàn của loài người. Lời nói của con không đi đôi với việc làm, mà nhiều khi còn đối kháng với hành động của con. Điều đó lại càng chứng tỏ chúng con đã được Chúa ban cho sự tự do đến gần như tuyệt đối, con đã lợi dụng sự tự do đó mà làm nô lệ cho tội lỗi mà không tự biết.

Quả thật “Khi còn là nô lệ tội lỗi, anh em được tự do không phải làm điều công chính. Bấy giờ anh em thu được kết quả nào, bởi làm những việc mà ngày nay anh em phải xấu hổ? Vì rốt cuộc những việc ấy đưa đến chỗ chết.” (Rm 6,20-21). Chính vì thế, cúi xin Chúa soi lòng mở trí cho con, thêm sức cho con biết luôn luôn “nhìn lại mình” để chiến thắng chính mình trước đã, và biết luôn luôn đem Lời Chúa dạy ra thực hành với châm ngôn “Đừng làm chỉ vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su.” (Pl 2, 3-5). Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.

Kinh Mân Côi và Gia Đình
Tháng Mân Côi lại về, đoàn con cái của Mẹ nao nức với niềm tôn kính mến yêu. Mẹ nhân hậu từ ái, tràn đầy yêu thương. Mẹ luôn hiện diện gần bên mỗi gia đình, ân cần bảo vệ chở che và ban ơn thánh hóa. Không gì êm ái, ngọt ngào, hạnh phúc cho bằng mỗi khi cả gia đình cùng nhau qui tụ trước bàn thờ lần chuỗi Mân Côi. Đây là nguồn sức mạnh thiêng liêng cho mọi thành viên trong gia đình.

Các Đức Giáo Hoàng đều cổ võ việc đọc kinh Mân Côi, nhất là trong các gia đình.

Đức Piô IX khuyên nhủ: “Kinh Mân côi là kho tàng quý giá của Giáo hội…hãy lần chuỗi mỗi buổi tối trong gia đình.

Đức Lêô XII thiết lập tháng Mân Côi.

Đức Piô X khẳng định: “Nếu các con muốn cho gia đình mình hạnh phúc thì hãy lần chuỗi với nhau mỗi buổi tối”.

Đức Piô XI huấn dụ: Chúng tôi khuyên các bậc làm cha làm mẹ hãy tập cho con cái mình thói quen lần chuỗi. Mỗi lần tiếp kiến các đôi vợ chồng trẻ, chúng tôi đều khuyên nhủ họ hãy siêng năng lần chuỗi. Ngay cả chúng tôi nữa, không ngày nào mà chúng tôi không lần chuỗi.

Đức Thánh Cha Piô XII mời gọi các bạn trẻ : Hãy yêu mến Mẹ qua việc lần chuỗi Mân côi. Năm 1951 ngài đã ra thông điệp về Kinh Mân côi, và xin các tín hữu hãy lần chuỗi gấp đôi trong tháng Mân côi. Trong một lần tiếp kiến, ngài nói với một vị Giám mục: Hãy yêu cầu các linh mục của ngài cầu nguyện và hãy nói cho họ biết: Đức Thánh Cha vẫn lần chuỗi mỗi ngày. Khi về già, trước lúc đi ngủ, dù là nửa đêm, ngài cũng vẫn lần chuỗi.

Thánh Gioan XXIII, ngay trong năm đầu của triều đại cũng đã ra một thông điệp về Kinh Mân côi.

Thánh Gioan Phaolô II, ngay trong tuần lễ sau khi đắc cử Giáo Hoàng, đã nói với tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô khi đọc kinh Truyền Tin: “Chuỗi Mân côi là lời cầu nguyện mà tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đơn giản và sâu sắc. Với lời kinh này chúng ta lập lại nhiều lần những lời mà Đức Trinh Nữ đã nghe sứ thần Gabriel và người chị họ Êlisabeth nói với Mẹ. Toàn thể Giáo Hội cùng liên kết với những lời kinh ấy”. (Tông thư Kinh Mân Côi).

Các Đức Thánh Cha đều khẳng định về sự tuyệt diệu của Kinh Mân côi và mong muốn mọi tín hữu hãy siêng năng lần chuỗi, đặc biệt là giờ kinh tối gia đình.

Hơn bao giờ hết, gia đình đang bị các sự dữ tấn công; thế giới đầy những biến động đe dọa hòa bình công lý. Mỗi Gia đình hãy hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, thực hiên ba lời dạy của Đức Mẹ Fatima : Hãy ăn năn, hãy tôn sùng Trái tim Mẹ, hãy năng lần hạt Mân Côi để được Chúa thương xót.

Sống Năm Mục Vụ Gia Đình 2017, đoàn con cái bước theo Mẹ, cố gắng thực thi giờ kinh tối trong gia đình. Đây chính là giờ “ngồi bên nhau” và “cùng nhau ngồi bên Mẹ, ngồi bên Chúa”, là giờ của chân lý, là một khám phá kỳ diệu, là một liều thuốc thần tiên xây dựng gia đình hạnh phúc. Kinh nguyện gia đình là phương thế hữu hiệu của việc giáo dục đức tin cho con cái và là chất keo xây dựng gia đình hạnh phúc. Thế nhưng, phương thế này đang bị các gia đình Công Giáo lãng quên và thay vào đó bằng những phương thế giải trí: phim ảnh, truyền hình, máy vi tính, game, điện thoại, những cuộc vui chơi bên ngoài gia đình… Do đó, để củng cố đức tin cho cả nhà và xây dựng mái ấm hạnh phúc, mỗi gia đình đã tổ chức những giờ kinh tối trong gia đình.

Tháng Mân Côi, mỗi gia đình đều đón kiệu Đức Mẹ đến nhà mình. Bà con giáo dân trong khu xóm đến từng nhà đọc kinh lần hạt kính Đức Mẹ. Lần lượt mọi gia đình trong giáo xứ đều được Mẹ đến thăm và ban ơn. Mỗi gia đình dâng chuỗi Mân Côi hằng ngày cầu nguyện cho một gia đình đang bất hòa, đang rối rắm hay nguội lạnh được ơn trở về.

Tháng Mân Côi, một bầu khí ấm áp tình thương của Đức Mẹ chan hòa trong toàn Giáo xứ.

Suốt tháng 10, mỗi lời kinh Mân Côi là một đóa hoa hồng diễn tả tình yêu của đoàn con cái dành cho Mẹ hiền. Qua Kinh Mân Côi, đoàn con thảo đọc đi đọc lại cả trăm cả ngàn lần kinh Kính Mừng, như trăm ngàn đóa hoa hồng dâng kính Mẹ từ ái.

Hoa Mân Côi đâu chỉ nở một tháng
Mà suốt đời tim lai láng tình duyên.
Hoa đơn sơ nhưng có vạn uy quyền
Muôn sóng cả nhưng thuyền đời vẫn vững.(THT).

Chất lượng kinh nguyện của từng gia đình tỷ lệ thuận với đời sống hạnh phúc. Mẹ thánh Têrêxa Calcutta đã từng nhắn nhủ: “Chúng ta hãy thương yêu nhau như Thiên Chúa đã yêu thương mỗi một người chúng ta. Mà tình yêu này được bắt đầu ở đâu? Ở ngay gia đình của chúng ta. Nó được bắt đầu ra sao? Ở việc gia đình cùng nhau cầu nguyện”.

Chuỗi Mân Côi mang hai đặc điểm nổi bật là chất Tin Mừng và tính Hội Thánh.

Chuỗi Mân Côi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.

Linh mục Lacordaire, nhà giảng thuyết thời danh đã gọi "Chuỗi Mân Côi là bản tóm lược cuốn Phúc Âm". Chuỗi Mân Côi gồm 20 mầu nhiệm Vui - Sáng - Thương - Mừng. Sau khi được Truyền tin, Đức Maria vội vã đi thăm bà Isave. Sau đó sinh con; rồi sau 40 ngày dâng con cho Thiên Chúa. Năm Chúa lên 12 tuổi, Mẹ và Thánh Giuse đã tìm thấy con sau ba ngày lạc mất trong đền thờ. Khi ra giảng đạo, trước hết là chịu phép rửa bởi Gioan ở sông Giorđan; dự tiệc cưới ở Cana; công bố Nước Trời kêu gọi sám hối; biến hình trên núi; lập Bí tích Thánh Thể. Sau khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa đi cầu nguyện và hấp hối trong vườn Cây Dầu. Sau đó bị bắt chịu đánh đòn, chịu đội mũ gai, chịu đóng đinh và chết trên Thánh giá. Được các môn đệ hạ xác chôn trong mồ. Sáng ngày thứ nhất trong tuần thì sống lại; 40 ngày sau khi sống lại lên trời; 10 ngày sau khi lên trời cử Chúa Thánh Thần xuống với các tông đồ. Đức Maria qua đời được đưa về trời cả hồn và xác, rồi được Thiên Chúa đặt làm Nữ Vương hoàn vũ. Đó là tóm lược tất cả cuốn Phúc Âm.

Lần chuỗi Mân Côi, cả gia đình cùng đọc những kinh trọng nhất trong đạo: Kinh Lạy Cha là kinh chính Chúa Cứu Thế đã dạy; Kinh Kính Mừng gồm lời chào của sứ thần Gabriel và lời ca tụng Đức Mẹ của bà Êliazabeth; Kinh Sáng Danh là lời tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi của Hội Thánh. Các mầu nhiệm suy gẫm là các mầu nhiệm trong đời Chúa Cứu Thế và Đức Mẹ. Ví dụ suy gẫm thứ hai mùa Vui, Đức Bà đi thăm bà Êliazabeth, cần phải cố gắng bắt chước Đức Mẹ thực hiện đức yêu thương ngay trong gia đình, với bà con, với mọi người. Thứ hai mùa Mừng, Chúa Giêsu lên trời, cần phải suy rằng cuộc đời này phải ăn thì phải làm lụng, buôn bán nhưng phải cố gắng nhớ đến mục đích đời này là để chuẩn bị về với Chúa đời sau, nên phải ăn ở lương thiện, tránh gian tham lỗi công bằng... Các mầu nhiệm khác cũng tương tự như thế. Đó là cách lần hạt hữu ích nhất.

Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Đức Giáo hoàng Phaolô VI khích lệ: “Bản chất việc đọc kinh Mân côi đòi hỏi nhịp điệu phải chậm rãi và có thời gian thư thả, để người ta có thời gian suy gẫm sâu xa về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu được nhìn qua Trái Tim của Đấng gần gũi nhất với Chúa”. Chuỗi hạt Mân Côi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mân Côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria. Cầm Chuỗi Mân Côi trên tay, chúng ta sẽ thấy mình được tăng thêm nghị lực, sống vươn lên với niềm Tin, Cậy, Mến. Chuỗi hạt Mân Côi mang đến vô vàn ơn phúc huyền diệu cho mỗi người, mỗi gia đình.

Kinh Mân côi là kinh hạt phổ quát cho hết mọi người, phổ cập cho mọi trình độ và phổ biến trong bất cứ hoàn cảnh nào. Điều thuận lợi của chuỗi Mân côi là lần hạt ở đâu cũng được. Ta không buộc phải đọc 50 Kinh Mân côi một lần mà có thể đọc bao nhiêu tuỳ vào thời gian ta có. Ta cũng có thể vừa làm việc vừa đọc Kinh Mân côi, không nhất thiết phải có tràng hạt trên tay. Ta cũng có thể thì thầm bất cứ lúc nào : khi chờ xe bên đường, lúc đi học, khi giải trí, khi đau bệnh … thay vì đưa mắt nhìn chung quanh, thay vì nghe những chuyện không đâu, ta cũng có thể lần hạt. Dù bận bịu đến đâu ta cũng có thể lần hạt. Đó là cách cầu nguyện mà triết gia Jacques Maritain gọi là “chiêm niệm bên vệ đường”. Kinh Mân Côi chính là người bạn chân tình, dễ tính, trung thành luôn sẵn sàng hiện diện mọi lúc, mọi nơi.

Kinh Mân côi là một vũ khí, nhưng là vũ khí hòa bình luôn đem lại hiệu quả tích cực. Ai yếu đuối, Kinh Mân côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

“Khi lần chuỗi Mân côi thì toàn diện con người của mình: thân, trí và tâm đều được chi phối. Cùng sự chi phối đó thì chuỗi Mân côi làm cho nơi chúng ta hình thành một con người mới chống lại những gì xấu trong tâm hồn mình.

Con người ta sống ở đời này bao giờ cũng sống trong ba mối tương quan chính: tương quan với Thiên Chúa, tương quan với tha nhân, tương quan với thế giới vật chất. Tội lỗi chúng ta nó cùng nằm trong ba mối tương quan đó. Khi lần chuỗi Mân Côi, Mẹ Maria sẽ giúp chúng ta sống những tương quan đó tốt đẹp.

Chẳng hạn khi chúng ta lần chuỗi chúng ta đọc: Chúa Giêsu lên trời, xin cho lòng con được hưởng những sự lên trời. Chúng ta sẽ sống mối tương quan với Thiên Chúa; chúng ta sẽ sống một tâm hồn siêu thoát hơn; khi chúng ta đọc: Mẹ Maria đi viếng thăm bà Isave, xin cho được lòng yêu người. Đó là lời cầu xin tương quan với tha nhân, bằng tình yêu thương chứ không phải là hận thù ghen ghét; khi chúng ta đọc Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin cho đóng đinh tính xác thịt mình vào thánh giá Chúa; đó là tương quan với thế giới vật chất, với chính xác thịt của mình.

Chuỗi Mân Côi giúp cho chúng ta chiến thắng cái xấu ở nơi bản thân mình, hoàn thành một con người mới, con người mới đó sẽ tác động trong cuộc sống, làm cho cuộc sống được đẹp hơn. Đức Cha Pul-ton-Shin là một diễn giả nổi tiếng ở Mỹ. Ngài chỉ giảng trên đài truyền hình chứ không giảng ở nhà thờ. Nhiều bạn trẻ xin Ngài chứng hôn cho lễ cưới của mình. Ngài đồng ý chứng nhận với hai điều kiện, hai bạn đó phải hứa với Ngài mỗi ngày vợ chồng phải đọc chung với nhau 50 kinh Kính Mừng. Lời kinh nối kết vợ chồng giúp cho họ xây dựng cuộc sống gia đình tốt đẹp hơn”. (ĐGM Phêrô Nguyễn Khảm).

Kinh Mân côi là một kinh quý báu của Giáo hội và của mọi gia đình, đó là kinh phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

Lạy Mẹ Maria, chúng con xin Mẹ ban cho mỗi gia đình và giáo xứ suốt tháng Mân Côi này những bao ơn lành. Xin Mẹ giúp chúng con luôn biết yêu mến tràng Chuỗi Mân Côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống, nhờ đó chúng con được hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau. Xin Mẹ khẩn cầu cho chúng con bên tòa Chúa. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
 
MARIA, MẸ CÓ PHÚC

Một hình ảnh rất truyền thống trình bày Ðức Mẹ Mân Côi, một tay bồng Chúa Giêsu hài Ðồng, còn tay kia thì trao tràng chuỗi Mân Côi cho thánh Ðaminh. Hình ảnh ý nghĩa này chứng tỏ rằng kinh Mân Côi là một phương thế được Ðức Mẹ ban cho nhân loại qua thánh Đaminh, để nhờ chiêm ngắm và suy niệm về cuộc đời của Chúa, mà yêu mến Chúa và theo Chúa mỗi ngày một trung thành hơn.

1. Kinh Kính Mừng
 
"Kính mừng Maria đầy ơn phúc". Là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường đọc. Nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel chào kính Đức Maria lúc truyền tin: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc (Lc 1,28), và lời xác nhận của bà Êlisabet: "Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc".

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Êlisabet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời, Giáo hội thêm vào lời cầu khẩn xin Mẹ thương nâng đỡ phù trì "Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời... và trong giờ lâm tử".

Phụng vụ mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) dìu ta về với "Đức Maria đầy ơn phúc". Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc khi thưa “xin vâng”. Phúc tiếp theo của Mẹ là có Thiên Chúa ở cùng, Mẹ cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng gồm phúc lạ. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng “đầy ơn phúc” này để tôn vinh Mẹ. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng đầu tư vốn liếng cuộc đời, biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ: "Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi". Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn. Chúng ta hãy đón nhận lời yêu cầu hiền mẫu của Mẹ siêng năng lần chuỗi Mân Côi.

2. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng
 
Sống trong thời văn minh điện toán toàn cầu hóa, biến con người thành những kẻ chạy đua với với thời cuộc. Kẻ làm, người học, có kẻ vừa học vừa làm, làm trong đi học… khiến người ta làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm cả ngày nghỉ. Thì hỡi ông bà anh chị em, dù bận đến đâu cũng đừng bỏ lễ Chúa nhật và lễ Trọng buộc. Dù mệt đến đâu cũng đừng bỏ đọc Kinh Kính Mừng. Vì "Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng" (St. Bênađô).

Nhiều bạn trẻ cho rằng : Thời buổi khoa học, ai còn tụng niệm như mấy ông già bà cả nữa. Không, câu chuyện có thật của một nam sinh Pháp và Bác học Louis Pasteur, Giám Đốc Viện nghiên cứu vi trùng học quốc tế, Giáo sư chuyên khoa Đại Học hoá học và sinh vật học là bằng chứng. Người đời thường có quan niệm: hễ càng văn minh, người ta càng xa Chúa. Nhưng ngược lại Louis Pasteur Bác học trứ danh lại càng tin theo Chúa. Và sợi dây gắn kết niềm tin ấy, động lực để nghiên cứu khoa học lại là Kinh Kính Mừng. Ông lần hạt khi đi trên Métro trước mặt những nam sinh nữ tú mà chúng không hay biết ông là người thầy của mình.

Thế giới ngày hôm nay tục hóa, con người sống như thể không có Thiên Chúa, chân phước Alanô mách bảo chúng ta: "Bất cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết".
 
Nếu bị ma quỉ cám dỗ, sự xấu, người xấu lôi kéo, hãy đọc Kinh Kính Mừng, vì: "Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ" (Lời thánh Anphongsô). Nếu con cái hư đốn, chồng không trung thủy, vợ bất trung thành, hãy đọc Kinh Kính Mừng:  "Nhờ Kinh Kính Mừng, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng".

3. Lời kinh cầu cho hòa bình
 
Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, nhất là bán đảo Triều Tiên, khủng bố dưới mọi hình thức ngày càng man dợ, trộm cắp, giết người cách tinh vi, hủy hoại môi sinh, gây đau khổ cho đồng loại. Trước những thế lực mạnh hơn trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, phải nại đến sức mạnh từ trời cao. Hãy chạy đến với Thiên Chúa, để cầu xin ơn bình an cho toàn thế giới. Việc làm trong tháng này là hãy lần Hạt Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại.

Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.
Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
CHUỖI NGỌC VÀNG KINH
 

Mai Côi, Chuỗi Ngọc Vàng Kinh
Thắm đượm thiên tình Mẫu Tử thiêng liêng
Kính mừng Vô Nhiễm Tội Nguyên
Xin thương nâng đỡ phận hèn chúng nhân.
 

Về ngữ nghĩa, Mai Côi còn được đọc là Mân côi, Văn côi, Mai Khôi, Môi Khôi (*). Lễ Đức Mẹ Mai Côi có nguồn gốc là lễ Đức Maria Chiến Thắng, do Đức Piô V (1566-1572) thiết lập để kỷ niệm cuộc thắng trận của đội hải thuyền Công giáo đối với quân Thổ Nhĩ Kỳ tại vịnh Lépante ngày 7-10-1571. Năm 1573, Đức Grêgôriô XIII (1572-1585) nâng lên hàng lễ buộc cho giáo phận Rôma và các Hiệp hội Mai Côi. Đức Clêmentê IX (1667-1669) đưa lễ này vào Lịch Phụng Vụ và cử hành vào Chúa Nhật đầu tháng Mười theo đề nghị của Dòng Đaminh.

Năm 1716, sau chiến thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Temeswar và Corfu ở ven biển Hy Lạp, các giáo hữu gọi Đức Mẹ là Mẹ Chiến Thắng, và rồi Đức Clêmentê XI (1700-1721) truyền cho khắp Giáo hội đặc biệt mừng lễ Mẹ Mân Côi hàng năm. Ngày 11-9-1887, Đức Lêô XIII (1810-1903) nâng lễ Đức Mẹ Mai côi lên bậc nhì với Thánh Lễ và Kinh Phụng Vụ theo phụng vụ Dòng Đaminh. Ðức Lêô XIII (1878-1903) phổ cập việc đạo đức này khắp thế giới qua Thông điệp “Supremi Apostolatus Officio” (Sứ vụ Tông đồ Cao cả) đề cao việc lần chuỗi Mai Côi trong tháng Mười, và tháng Mười đã trở thành tháng Mai Côi kính Đức Mẹ. Và sau đó, Đức Piô X (1903-1914) lại ấn định mừng lễ Đức Mẹ Mai Côi vào ngày 7-10 như trước.

Ngày 16-10-1978, khi xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng trên cương vị Giáo Hoàng, Đức Gioan Phaolô II (1978-2005) đã phó thác sứ vụ của ngài cho Đức Mẹ và gọi Kinh Mân Côi là “lời kinh kỳ diệu”. Ngài lần chuỗi Mai Côi hàng ngày, và ngài đã đề cao giá trị của Kinh Mai Côi qua Tông thư “Rosarium Virginis Mariae”.

Đặc biệt hơn cả là chính Ðức Trinh Nữ Maria đã tự xưng là “Đức Mẹ Mai Côi” tại Fatima vào ngày 13-10-1917 khi Đức Mẹ nhắn nhủ: “Hãy lần Chuỗi Mai Côi hàng ngày. Hãy cầu nguyện nhiềudâng các hy sinh để cầu nguyện cho các tội nhân. Ta là Mẹ Mai Côi. Chỉ có Ta mới có thể cứu các con. Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ chiến thắng”.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng Đức Mẹ muốn con cái tôn kính Người trong tháng Mười, tháng biệt kính Kinh Mai Côi. Theo truyền thống Công giáo, trước đây Kinh Mai Côi gồm 3 Mầu nhiệm (gọi là “mùa” hoặc “năm sự”): Vui, Thương và Mừng. Từ năm 2002, Đức Gioan Phaolô II thêm Mầu nhiệm Sáng. Ngài nói: “Kinh Mai Côi là mầu nhiệm của các mầu nhiệm. Lần chuỗi Mai Côi là giao phó những gánh nặng cho Thánh Tâm Thương Xót của Chúa Kitô và Đức Mẹ”.

Trình thuật Cv 1:12-14 cho biết: “Các Tông đồ từ núi Ô-liu trở về Giêrusalem. Núi này ở gần Giêrusalem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát. Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông: Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê, Philípphê, Tôma, Batôlômêô, Mátthêu, Giacôbê – con ông Anphê, Simôn – thuộc nhóm Quá Khích, và Giuđa – con ông Giacôbê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria – thân mẫu Đức Giêsu, và với anh em của Đức Giêsu”.

Thời đó chưa có Kinh Mân Côi, vì thế không có gì liên quan. Nhưng sách Công vụ Tông đồ cho thấy sự “đồng tâm nhất trí” và “sự cầu nguyện chuyên cần” của các Tông đồ cùng với một số phụ nữ nhiệt thành lo việc đạo đức, trong đó có Đức Mẹ và thân nhân của Chúa Giêsu. Thời gian đó, Chúa Giêsu mới chịu chết và phục sinh, ai cũng sợ người ta bách hại – nhất là những người có liên hệ với Chúa Giêsu. Tuy nhiên, sự cùng nhau cầu nguyện đã giúp mọi người an tâm và tin tưởng vào Thiên Chúa.

Khi đọc Kinh Mai Côi chung với nhau – chí ít cũng là hai người, rất cần sự đồng tâm cầu nguyện. Đọc Kinh Mai Côi không chỉ là suy niệm các mầu nhiệm, tôn vinh Thiên Chúa và chúc tụng Đức Mẹ, mà còn liên quan “thực tế” về sự liên hệ với nhau. Khi đó, người này phải biết lắng nghe và chờ đợi người kia. Hai động thái đơn giản nhưng cần thiết, điều đó nhắc nhở chúng ta cũng phải biết lắng nghe và chờ đợi nhau trong cuộc sống thường nhật. Đó chính là động thái của tình yêu thương. Không yêu thương thì không thể đồng tâm nhất trí. Quả thật, Kinh Mai Côi kéo chúng ta đến gần với nhau hơn – cả tinh thần lẫn thể lý.
Thánh Phaolô cho biết: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4:4-5). Người phụ nữ được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ Thiên Chúa đó chính là Đức Trinh Nữ Maria, một “Nữ tỳ Vĩ đại”. Và nhờ đó, chúng ta được trở thành con cái của Thiên Chúa và của Đức Mẹ.

Thật vậy, Thánh Phaolô giải thích: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: ‘Áp-ba, Cha ơi!’. Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4:6-7). Trên cả tuyệt vời, chúng ta chẳng biết diễn tả niềm hạnh phúc đó như thế nào, vì niềm hạnh phúc đó quá lớn lao, vượt ngoài trí tuệ của những người thông minh nhất thế gian này!

Tin Mừng hôm nay là trình thuật Lc 1:26-38, nói về cuộc Truyền Tin. Đây là Đại Hỉ Tín của nhân loại.

Sứ thần Gáprien vào nhà chào Trinh Nữ Maria bằng một câu chúc: “Mừng vui lên, hỡi Người đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Cô”. Nghe lời ấy, Thôn Nữ Maria “hết hồn”. Cô bối rối vì chả hiểu ất giáp gì: “Sao kỳ vậy ta?”. Sứ thần biết Cô Maria “ngại” lắm nên trấn an ngay: “Cô Maria ơi, xin đừng sợ, vì bà Cô đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây Cô sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”.

Lại càng kỳ dữ nghen! Cô Maria nghiêm túc thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”. Sứ thần vừa cười hiền vừa trầm giọng: “Này, cứ an tâm. Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Cô, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Cô, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”. Rồi Sứ thần dẫn chứng cụ thể: “Cô biết không, Chị Êlisabét, người họ hàng với Cô đó, tuy lớn tuổi rồi mà cũng đang cưu mang một người con trai đấy. Chị ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa,không có gì là không thể làm được.

Nghe vậy, Cô Maria thở “phào”, nhẹ cả người, và rồi nhỏ nhẹ nói ngay: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Lời “xin vâng” khiêm nhường và mau mắn của Đức Mẹ vô cùng quý báu. Để rồi “chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người, và ở cùng chúng ta” (Kinh Truyền Tin).
Lễ Đức Mẹ Mai Côi là dịp để chúng ta tự xét mình với ba mệnh lệnh Fatima: (1) Sám hối, cải thiện đời sống; (2) Tôn sùng Trái Tim Mẹ; (3) Năng lần chuỗi Mai Côi. Gần 100 năm qua, nhân loại đã thay đổi được gì? Mỗi chúng ta có cố gắng thay đổi hàng ngày?

Thánh Phêrô nhắc nhở: “Hãy sống thánh thiện vì Thiên Chúa là Đấng Thánh” (1 Pr 1:16). Trước đó, khi còn tại thế, chính Chúa Giêsu đã giáo huấn: “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Có nhiều con đường dẫn đến với Chúa Giêsu, nhưng Con Đường ngắn nhất và chắc chắn nhất chính là Đức Maria.

Lạy Thiên Chúa Cha toàn năng, hằng hữu và hằng sinh, xin cảm tạ Ngài luôn quan phòng và tiền định mọi điều, đặc biệt là ban cho chúng con Thánh Mẫu Maria, vì chính Con Yêu Dấu Ngài đã xác định: “Đây là Mẹ của con” (Ga 19:27). Lạy Mẹ Maria, xin dẫn chúng con tới Chúa Giêsu, Con Yêu Dấu của Mẹ. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

------------------------------------------------

(*) Dictionarium Anamitico Latinum của ĐGM AJ. L. Taberd (năm 1838) không có từ Mân Côi, Văn Côi, Mai Khôi. Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, ấn bản 1895-1896 có từ Môi Khôi, được định nghiã là (1) hoa hồng; (2) loài ngọc qúy. Ông ghi chú thêm: phải đọcMai, không nên đọc là Môi. Thuật Ngữ Thần Học Anh Việt của Học Viện Đa-minh (năm 2002) định nghĩa Rosary là Chuỗi Mân Côi do tiếng Latin Rosarium: Tràng Hoa Hồng. Từ Điển Văn Học Việt Nam của Lm Trần Văn Kiệm (năm 2007) định nghiã các từ Môi Khôi, Mân Côi, Môi Côi, Mai Khôi: Hoa Hồng.
 
Hán Việt đọc là Mai hay Mân, nhưng Mai là từ đúng nhất. Từ điển của Đào Duy Anh, của Ban Tu Thư Nghiã Thục, của Huỳnh Tịnh Paulus Của đều chỉ ghi từ Mai. Còn Mân hay Môi chỉ là cách phát âm khác của Mai. Từ điển của LM Trần Văn Kiệm đều viết Mai hay Mân là 玫. Bô Khang Hy Tự Điển ghi Mai và Môi đồng âm. Ngoài ra theo Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn thì thì Mân Côi hay Văn Côi được viết như nhau 玫 瑰. Có nghiã là hoa hồng và đá ngọc. Từ điển này cũng viết dùng Văn Côi để chỉ sợi vân của ngọc.

Tóm lại, theo các từ điển, từ
Mai Côi là đúng nhất. Các từ Mân, Môi hoặc Văn chỉ là âm khác của từ Mai.

Trầm Thiên Thu

NỮ TỲ CỦA THIÊN CHÚA
 
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 
Trong Cựu Ước không có nhân vật nào có thể so sánh được với ông Mô-sê. Thế mà Danh xưng đẹp nhất, xứng hợp nhất của ông là TÔI TỚ CỦA THIÊNCHÚA. Trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, ngoài Chúa Giê-su, thì không có nhân vật nào đáng kính, đáng trọng, đáng mến cho bằng Đức Ma-ri-a. Thế mà Danh xưng đẹp nhất, xứng hợp nhất của Mẹ là NỮ TỲ CỦA THIÊN CHÚA. (Theo ngôn ngữ của báo chí bình dân ngày nay, Đức Ma-ri-a là Ô-SIN của Thiên Chúa)

Mừng các Lễ kính Đức Mẹ, trong đó có Lễ Mân Côi, Hội Thánh cho chúng ta đọc lại đoạn Tin Mừng của Thánh Lu-ca về câu truyện Truyền Tin, để chúng ta chiêm ngắm dung nhan Đức Mẹ, suy gẫm về ơn gọi và sứ mạng của Đức Mẹ, học với Đức Mẹ mà sống trọn vẹn tư cách cao trọng nhất của chúng ta là tôi tớ của Thiên Chúa như Đức Mẹ đã sống.      

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
 
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (Cv 1,12-14): Họ chuyên cần cầu nguyện cùng với Bà Ma-ri-a, than mẫu Đức Giê-su.
 
2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 2 (Gl 4,4-7): Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà.
 
2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Lc 1,26-38): Này đây Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
 
3.1 Chân dung Thiên Chúa trong 3 bài Thánh Kinh    
 
3.1.1 Bài đọc 1 (Cv 1,12-14) là một trích đoạn của Sách Công Vụ Tông Đồ nói về sinh hoạt tôn giáo của cộng đoàn Tông Đồ sau khi Chúa Giê-su Ki-tô đã về trời và trước khi Chúa Thánh Thần hiện xuống. Giai đoạn này dài bao lâu, sách Công Vụ không nói. Điều mà sách Công Vụ cho ta biết là các Tông Đồ “đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện” cùng với mấy người phụ nữ, trong đó có Đức Ma-ri-a, Mẹ Chúa Giê-su và một ít thân nhân của Chúa Giê-su.   
 
Qua đoạn Sách Công Vụ Tông Đồ (1,12-14) này, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa đã quan phòng sắp đặt mọi sự, để sau khi Chúa Giê-su chết trên thập giá thì Đức Ma-ri-a có chỗ trong cộng đoàn các Tông đồ. Điều đó là hiển nhiên về mặt con người, vì Chúa Giê-su đã giao cho Thánh Gio-an việc chăm lo cho Đức Mẹ. Nhưng điều đó lại là nhiệm mầu về mặt Giáo lý, vì từ nay Đức Ma-ri-a sẽ luôn ở bên các Tông Đồ, với tư cách là một thành viên của cộng đoàn những người tin theo Chúa Giê-su và loan báo Tin Mừng Chúa Ki-tô Phục Sinh cho mọi người.
 
3.1.2 Bài đọc 2 (Gl 4,4-7) là những lời giảng dậy của Thánh Phao-lô dành cho tín hữu Ga-lát về kế hoạch hay chương trình nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đó là Thiên Chúa để cho Con của Người đầu thai làm người trong cung lòng một phụ nữ và sống trong bối cảnh ràng buộc của Lề Luật (Mô-sê). Nhưng sứ mạng của Con Thiên Chúa là giải thoát nhân loại khỏi cảnh nô lệ của Lề Luật và trở thành con cái tự do của Thiên Chúa, nhờ Thánh Thần của chính Chúa Giê-su đã được ban cho mỗi người Ki-tô hữu ở giếng Rửa Tội.
 
Trong đoạn thư gửi tín hữu Ga-lát (4,4-7)chúng ta thấy Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần (tức Thiên Chúa Ba Ngôi) hành động nhịp nhàng một cách tuyệt vời, nhằm lợi ích đích thực của con cái Thiên Chúa: Chúa Cha có kế hoạch, Chúa Con và Chúa Thánh Thần cùng thực hiện kế hoạch nhập thể và cứu độ ấy.
 
3.1.3 Bài Tin Mừng (Lc 1,26-38) là câu truyện Truyền Tin trong Phúc Âm Lu-ca được tường trình như một buổi trao đổi, chia sẻ cởi mở thân tình giữa một cô thôn nữ vừa đính hôn là Đức Ma-ri-a và sứ thần Gáp-rien của Thiên Chúa cao sang. Thiên sứ có sứ mạng thông tin cho Đức Ma-ri-a biết ý định và kế hoạch của Thiên Chúa. Đức Ma-ri-a nêu thắc mắc một cách “hợp tình hợp lý” và được thiên sứ giải đáp thỏa đáng. Kết cục là Đức Ma-ri-a đón nhận thánh ý của Thiên Chúa, bằng thái độ và lời vâng phục không thể tuyệt vời hơn: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói."
 
Qua đoạn Phúc âm Lc 1,26-38 này chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng rất gần gũi yêu thương loài người vì Người có kế hoạch cứu chuộc từ đời đời. Thiên Chúa lại rất tôn trọng quyết định hợp tác của Đức Ma-ri-a. Đồng thời chúng ta còn thấy Thiên Chúa là Đấng rất quyền năng vì “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."

Chúng ta có thể thêm vào đây điều mà chúng ta khám phá ra nơi Đức Ma-ri-a: Mẹ có một tâm hồn thật đơn sơ, thánh thiện, sẵn sàng từ bỏ ý riêng mình để đón nhận chương trình vĩ đại của Thiên Chúa. Mẹ tin tưởng, phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa trong một cuộc phiêu lưu không biết sẽ đưa Mẹ đến đâu.  

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa      
 
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là Thiên Chúa đã mời và cho phép Đức Ma-ri-a cộng tác vào chương trình Nhập Thể và Cứu Độ của Con Một Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô. Đức Ma-ri-a đã xác nhận tư cách của ngài là nữ tỳ của Thiên Chúa, nên ngài vâng phục và hợp tác trọn vẹn với Thiên Chúa Ba Ngôi.

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI
 
4.1 Sống với Thiên Chúa là Đấng đã chọn Đức Ma-ri-a làm Mẹ Chúa Cứu Thế trong kế hoạch cứu độ nhân loại.
 
4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa 

Suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy mình phải làm 3 việc sau đây để thực thi sứ điệp của Lời Chúa hôm nay:

Thứ nhất là cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã chọn Đức Trinh Nữ Ma-ri-a làm mẹ Chúa Cứu Thế là Đức Giê-su Ki-tô.

Thứ hai là ngưỡng mộ Đức Trinh Nữ Ma-ri-a: vì Ngài đã XIN VÂNG bằng Lời Nói và Hành Động, để Thiên Chúa Ngôi Hai xuống thế làm người cứu chuộc nhân loại.

Thứ ba là nhìn lại xem chúng ta đang sống tư cách là tôi tớ của Thiên Chúa như thế nào: chúng ta có biết nói lời XIN VÂNG trước tiếng gọi (hay ơn soi sáng) của Chúa Thánh Thần, để ý định của Thiên Chúa về tôi và về những người thuộc trách nhiệm của tôi, được thực hiện không?

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn.»Cùng với Đức Ma-ri-a là Mẹ Chúa Giê-su và là Mẹ chúng ta, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các dân tộc trên thế giới để họ được ơn khám phá ra Chương Trình Cứu Độ lớn lao của Thiên Chúa được thực hiện qua những con người đơn sơ, bé nhỏ và vâng phục như trinh nữ Ma-ri-a của làng Na-da-rét.

Xướng:Chúng ta cùng cầu xin Chúa!Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 
 
5.2 «Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.»Cùng với Đức Ma-ri-a là Mẹ Chúa Giê-su và là Mẹ chúng ta, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục và Phó Tế và cho hết mọi Ki-tô hữu để mọi thành phần Dân Chúa biết sống tin yêu và tuyệt đối vâng phục Thiên Chúa như Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.
 
5.3 «Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà Cùng với Đức Ma-ri-a là Mẹ Chúa Giê-su và là Mẹ chúng ta, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Ki-tô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, để mọi giáo dân lớn bé già trẻ cảm nghiệm được niềm hạnh phúc của mình là có Thiên Chúa ở cùng.
 
5.4 «Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.»Cùng với Đức Ma-ri-a là Mẹ Chúa Giê-su và là Mẹ chúng ta, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho những người kém lòng tin để họ khám phá ra Thiên Chúa quyền năng và huyền nhiệm.
 
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
 Trở về
Các bài viết khác:
ĐỒNG LƯƠNG XỨNG ĐÁNG (19/09 21:58:57 PM)