Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 18 tháng 11 năm 2017

 Suy niệm - Chia sẻ: Lời Chúa - Các bài khác
(16/10/2017 19:08 PM)
Chia sẻ tin:
ĐÃ LÀ KITÔ HỮU PHẢI TRUYỀN GIAO  

 https://lh3.googleusercontent.com/GvGINWLKxgCyTRd06pPoRJITaJoX2yQspDrUsnxRjYSEUj6foM_OearHEtb3TW_ENK1QLO5OCJTbBp691Cu8NYaYNRe28uWpM4Jxym0_1XWmZb_l6YO6_GgYuIcc2NdAUi16IpRDL0TG3dgH4rSHPwTz9wsqjM30LB93b04kTc4B0OuJXevhTtodRMbDLUtc4HkjhNRgNrBM-57XHfOgu86-HobGeLj_Qjmos0Z6Z2mdGx1lOoyh8MW_qwBBgOILK-xLPRvdeplvNS1-AZu5J4tD-p1sUZDd7OpeZZcRvNHCknmggeBTVYssNX3-fRSPkKrSRJsCOHc38b9X_sXSQT1kxXxghnaAXYzcjtV6qMQDP33V4R-fcTFrN1HgMkMyTadm1LiImP55vYRv8J4kc7WMrmjTMY6u24vCg5Qt5ijAkQNwGfKZqdb9lpDlHWdOiIRyTnGPBum9F4qTyqqG5lwzw4vtIoYdMMjYAjX4El1bomZbUvsEdR0pUf4n5qHk5MfnIN83fd39INKIIZwV8niYo97Py258tizPPPNCIzaFbwDOwQkl22aLFw3GZK2p_8Q9wgOWSRpcLOK-eBImVM3tFE2_TRkakHk1Gm8eQrY=w438-h628-no
Tháng 10, tháng truyền giáo

Hàng năm, cứ mỗi khi tháng 10 về, Giáo hội lại cùng với con cái mình sốt sáng lẫn chuỗi Mân Côi và khám phá lại vẻ đẹp của lời Kinh này để cầu cho thế giới được hoà bình. Tháng 10 còn là tháng truyền giáo,Giáo hội cũng kêu gọi con cái mình dấn thân cho việc truyền giáo, nên Đức Thánh Cha đã gửi sứ điệp cho mọi thành phần dân Chúa, khuyến khích họ bước theo Chúa Giêsu “Người rao giảng Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất” (Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, 7), và “lấy nguồn cảm hứng từ Đức Maria, Mẹ của công cuộc Phúc âm hoá” (Sứ điệp Truyền giáo 2017, số 10) để lên đường truyền giáo.

Nhưng truyền giáo để làm gì?

Để nhắc lại rằng bản chất của Giáo hội là truyền giáo ; mục đích đầu tiên của Giáo hội khi được Chúa Giêsu thiết lập là truyền giáo.

Ai phải truyền giáo?
 
Là chi thể của Hội Thánh, tất cả những người đã chịu phép rửa tội phải thi hành nhiệm vụ truyền giáo. Điều này không có ý nói họ phải đi thật xa. Những nơi nào có họ, họ phải truyền giáo. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô nói:  “Không ai được ngưng nghỉ việc này, vì là bổn phẩn khẩn thiết của ngày hôm nay”. Với lại, chính Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân ” (Mt 28,19). Thánh Phaolô kêu lên: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16).

Giáo hội tự bản chất là truyền giáo.
 
Nếu như Isaia con trai Amót được thị kiến: “Các dân nước sẽ đổ xô về núi Chúa... trong ngày sau hết” (x. Is 2,1-5). Thánh Phaolô cho người con tình thần của mình biết: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi” (x.1 Tm 2,4–6). Cả bốn sách Tin Mừng đều nêu bật ý nghĩa của việc truyền giáo, nội dung sứ vụ mà Chúa Giêsu trao cho Giáo hội, chứng tỏ bản chất của Giáo hội là truyền giáo. Chính Chúa Giêsu Phục sinh đã nói với các tông đồ nơi Phòng Tiệc Ly như sau: “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21). Đến lượt Chúa Con cũng sai Giáo hội ra đi cho đến tận cùng trái đất. Ðây là sứ điệp duy nhất phát xuất từ Thiên Chúa gửi đến hết mọi người ngõ hầu họ được cứu chuộc và trở nên con cái Thiên Chúa.

Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: Sứ vụ truyền giáo là “bổn phận của toàn thể Giáo hội”, vốn “tự bản chất là thừa sai” (Ad gentes, 2). Trích dẫn lời Đức Phaolô VI, ngài tiếp: “Giáo Hội hiện hữu để truyền giáo, để giảng thuyết và giáo huấn, để làm máng chuyển quà tặng của các ân sủng, để hoà giải các tội nhân với Thiên Chúa, để trường tồn hy lễ của Chúa Kitô trong Thánh Lễ, đó là việc tưởng niệm cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Người.”

Ðức Bác Ái là linh hồn của sứ mạng truyền giáo.

Thánh Phaolô viết: “Tình Yêu Chúa Kitô thôi thúc tôi” (2 Cr 5,14). Đức Kitô thúc bách những người đã chịu phép Rửa tội nam phụ cũng như lão ấu, kể cả người đau yếu lẫn người nghèo, khi đã đón nhận tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, có sứ mạng rao giảng và mang tình yêu cho hết mọi người, bằng lời nói và chứng tá cụ thể của Đức Ái. Truyền giáo là gì nếu không phải là loan báo Tin Mừng về tình yêu của Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu đã làm. Người không những đã hăng say loan báo tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người, Người còn hy sinh mạng sống để làm chứng cho tình yêu đó.

Nhân dịp Đại Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã nói: “Sứ mạng của Giáo Hội kéo dài sứ mạng của Chúa Kitô. Giáo Hội không ngừng rao giảng cho thế giới Tình Phụ Tử của Thiên Chúa, bằng việc rao giảng và bằng chứng tá của những con cái mình...nhờ việc thực hành mệnh lệnh tình thương đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em”. Ngài cũng khuyến khích mọi thành phần trong Giáo hội can đảm khởi hành “mùa truyền giáo mới”, vì “Giáo hội cần đến với con người, với sự tế nhị và tôn trọng của một người phục vụ. Và Giáo hội tin tưởng rằng công việc phục vụ trước tiên và cao cả nhất là công việc rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô”, ngài kêu gọi: “Anh chị em đừng sợ: hãy mở toang mọi cửa để tiếp đón Chúa Kitô” (Huấn Đức ngày 22 tháng 10/2000, tại Rôma).

Cử hành ngày Thế giới Truyền giáo năm nay với chủ đề: Việc Truyền Giáo ở tâm điểm của Đức Tin Kitô giáo”. Trong lời mở đầu, Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo; nếu không, Hội Thánh không còn là Hội Thánh của Đức Kitô nữa” (Trích Sứ điệp truyền giáo 2017). Ngài gợi lên một số vấn nạn cốt yếu để chúng ta suy nghĩ và hành động như: “Nền tảng việc truyền giáo của chúng ta là gì? Tâm điểm việc truyền giáo của chúng ta là gì? Chúng ta phải có cách tiếp cận cơ bản nào để thi hành công việc truyền giáo?” Ngài trích lời của thánh Irênê: “Vinh quang của Thiên Chúa là chính con người sống” (Irênê, Adversus Haereses IV, 20, 7). Chúa Giêsu đến để cho con người không những được sống mà còn sống dồi dào. Vì thế, “việc truyền giáo của Hội Thánh không thể là quảng bá một ý thức hệ tôn giáo, càng không thể là đề nghị một học thuyết đạo đức cao siêu… Truyền giáo là trình bày cho con người thời nay biết Chúa Giêsu phục sinh đang sống giữa chúng ta, những ai đón nhận Người thì với đức tin và đức mến có thể trải nghiệm sức mạnh biến đổi của Thần Khí Người” (số 3).

Ngài viết tiếp: “Thế giới vô cùng cần Tin Mừng Đức Giêsu Kitô” (số 5) ; Ngài nhắc nhở mọi thành phần dân Chúa “đừng bao giờ quên rằng, là Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một ý tưởng cao siêu, nhưng là gặp gỡ với một biến cố, một Người, sự gặp gỡ ấy tạo cho cuộc đời một chân trời mới và một hướng đi quyết định”(Bênêđictô XVI, Deus Caritas Est, 1). Ngài thêm: “Truyền giáo nhắc nhở Hội Thánh rằng mình không phải là một mục đích tự tại, nhưng là một dụng cụ và trung gian khiêm tốn của Nước Trời” (số 7), và Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến người trẻ, ngài viết: “Giới trẻ là hy vọng của truyền giáo. Con người Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng Người công bố tiếp tục thu hút nhiều người trẻ” (số 8) . Cuối cùng ngài khuyên: “Chúng ta hãy lấy nguồn cảm hứng từ Đức Maria, Mẹ của công cuộc Phúc âm hoá. Được Thần Khí thúc đẩy, Mẹ đã đón nhận Lời sự sống trong đức tin khiêm cung thâm sâu của Mẹ”.

Xin Đức Trinh Nữ giúp chúng ta nói lên lời “xin vâng” của mình, khi ý thức nhu cầu cấp bách phải làm cho Tin Mừng của Đức Giêsu vang dội trong thời đại chúng ta. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

SỐNG ĐẠO GIỮA ĐỜI
   
                       

Người Việt Nam vẫn gọi những người theo Đạo Thiên Chúa là những người có Đạo. Khi nói đến “sống Đạo giữa Đời” là nói đến sứ mạng chính yếu của người có Đạo (tức là những Ki-tô hữu sống giữa trần gian với trách nhiệm loan báo Tin Mừng mà Thiên Chúa và Giáo hội đã trao phó). Nói cách cụ thể thì đó là công cuộc Truyền Giáo như ĐTC Phan-xi-cô viết trong phần mở đầu Sứ điệp Truyền Giáo 2017 (“Sứ vụ Truyền Giáo trong Lòng Đức Tin Ki-tô giáo”):

“Một lần nữa trong năm nay, ngày Thế giới Truyền Giáo tụ tập chúng ta lại chung quanh con người của Chúa Giê-su, "Đấng loan báo Tin Mừng tiên khởi và vĩ đại nhất" (Phaolô VI, “Evangelii Nuntiandi”, 7), Đấng tiếp tục sai chúng ta đi loan báo Tin Mừng về tình yêu của Chúa Cha trong quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ngày hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ lại về việc truyền giáo trong lòng đức tin Ki-tô giáo. Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo; nếu không, thì Hội Thánh không còn là Hội Thánh của Đức Ki-tô nữa, mà là một trong nhiều nhóm người cuối cùng chỉ phục vụ mục đích riêng của họ và qua đi. Vì thế, điều quan trọng là chúng ta tự đặt ra cho mình những câu hỏi về căn tính Ki-tô giáo của mình và trách nhiệm của mình như các tín hữu trong một thế giới bị đánh dấu bởi sự nhầm lẫn, thất vọng và thất bại, cùng bị xâu xé bởi các cuộc chiến tương tàn, là các cuộc chiến bất công nhắm đến những người vô tội. Căn bản của sứ vụ truyền giáo của chúng ta là gì? Trọng tâm của sứ vụ truyền giáo của chúng ta là gì? Những tiếp cận thiết yếu mà chúng ta cần phải thực hiện trong việc thi hành sứ vụ truyền giáo của chúng ta là gì?” (nguồn: Vatican.net)

Xin cùng tìm hiểu về sứ vụ Truyền giáo:
 
I.- TRUYỀN GIÁO – TÍNH CHẤT CĂN BẢN CỦA GIÁO HỘI:

A- XUẤT PHÁT ĐIỂM VÀ ĐÍCH ĐIỂM CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO:


Xuất phát từ lòng nhân từ thương xót vô biên, Thiên Chúa dựng nên loài người có nam có nữ, để làm vinh danh Người và tạo nên hạnh phúc cho loài người. Nói rõ hơn, vì tình yêu, Thiên Chúa ban sự sống cho con người và lại quay lại mời gọi loài người san sẻ tình yêu ấy cho nhau, liên kết nhau thành một dân duy nhất quy hướng về nguồn cội “Thiên Chúa Tình Yêu” (tức là khơi nguồn từ “Suối Tình Yêu” Thiên Chúa tuôn trào, để lại trở về với cội nguồn là “Biển Tình Yêu” bao la vô lượng của Thiên Chúa). Dòng chảy không ngừng ấy cũng chính là nguyên lý Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh như sắc lệnh về Truyền Giáo “Ad Gentes” (số 2) đã chỉ rõ: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo Ý Ðịnh của Thiên Chúa Cha. Ý định này tuôn trào từ "suối tình yêu" cũng là lòng thương của Thiên Chúa Cha, vì chính Ngài là Nguyên lý vô Nguyên lý, bởi Ngài mà Chúa Con được sinh ra, và cũng bởi Ngài và nhờ Chúa Con mà phát xuất Chúa Thánh Thần.”

Chính vì thế, nên chân lý “Thiên Chúa Tình Yêu” vừa là xuất phát điểm, vừa là đích điểm của hoạt động truyền giáo. Công cuộc truyền giáo bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi, được duy trì và tiếp nối từ khi con người hiện diện trên trái đất. Những Thánh vịnh, Thánh ca, những ngôn từ, sách vở được lưu truyền rộng rãi, hoặc những hình ảnh về một cây nho, một vườn nho đan tử trong Cựu Ước, đã minh họa sống động cho điều này. Tới khi Thiên Chúa Cha sai Con Một xuống thế thực thi sứ mạng cao cả cứu độ nhân loại, thì một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vĩ đại – về truyền giáo được khai sinh. Và cũng từ đó, Giáo hội được thiết lập như một tiếp nối hành trình Con Đường Cứu Rỗi của Đức Ki-tô. Rõ ràng, Truyền Giáo tức là tình yêu “nhận về” (eros) – đón nhận Tình Yêu từ Thiên Chúa – và tình yêu “cho đi” (agape) – chia sẻ Tình Yêu ấy cho anh em.
 
B- TÍNH CHẤT CĂN BẢN CỦA GIÁO HỘI TRẦN THẾ:

Giáo hội trần thế còn gọi là Giáo hội Lữ hành, đó là một cộng đồng Dân Chúa đang trên hành trình tiến về Quê Trời (Giáo hội Thiên Quốc – GH Khải Hoàn). Vì tính cách tìm kiếm để chiếm hữu được Nước Trời, nên mọi hoạt động của Giáo hội nơi trần thế đều quy về một hướng: Rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Khởi từ biến cố “Ngôi Lời nhập thể”, một kỷ nguyên mới được mở ra giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi. Loài người vì được Thiên Chúa ban cho sự tự do đến gần như tuyệt đối, phát sinh kiêu ngạo “muốn bằng Đức Chúa Trời” (câu chuyện “Nguyên Tổ ăn trái cấm” – St 3, 1-24, câu chuyện “xây tháp Babel” – St 11, 1-9), và vì thế ngày càng đắm chìm trong tội lỗi nhuốc nhơ, trong bóng tối của tử thần. Đức Giê-su Ki-tô nhận lãnh sứ vụ từ Thiên Chúa Cha – qua thông hiệp của Chúa Thánh Thần – đã đến trong thế gian để hiện thực hóa sứ vụ rao truyền ơn Cứu Rỗi.

Người chính là nhà Truyền Giáo vĩ đại nhất, bởi chính Người là Thiên Chúa tác tạo muôn loài lại phải trở nên “mọi sự trong mọi người” (“Lúc muôn loài đã quy phục Đức Ki-tô, thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ quy phục Đấng bắt muôn loài phải quy phục Người; và như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.” – 1Cr 15, 28), đồng thời phải đem chính mạng sống của mình ra cứu chuộc tội lỗi cho muôn người. Với dụ ngôn “Cây nho và vườn nho”, Người đã dạy cho các môn đệ cũng như cho mọi tín hữu biết tất cả là những cành nho hút nhựa từ thân cây nho duy nhất là Đức Ki-tô phải có bổn phận trổ sinh hoa trái, đó chính là bổn phận Truyền Giáo. Lệnh truyền của Đức Ki-tô: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28, 19-20), đã minh chứng rằng khi thiết lập Hội Thánh Chúa nơi trần thế, Người đã trao cho Giáo hội sứ mạng tiếp nối hành trình Cứu Độ mà Người đã thực hiện qua Hy tế Thập Giá và sự Phục Sinh vinh hiển, đem lại sự sống vĩnh cửu cho nhân loại.

Rõ ràng tính chất căn bản của Giáo hội là truyền giáo (“Như thế, rõ ràng là hoạt động truyền giáo bắt nguồn sâu xa từ chính bản tính của Giáo hội. Nó truyền bá đức tin cứu rỗi của Giáo hội, hoàn tất sự hiệp nhất công giáo của Giáo hội bằng cách làm bành trướng sự hiệp nhất này, nó dựa vào tính cách tông truyền của Giáo hội, nó thể hiện ý nghĩa cộng đoàn của hàng Giáo phẩm, nó làm chứng, truyền bá và thúc đẩy sự thánh thiện của Giáo hội.” – Sắc lệnh Truyền Giáo “Ad Gentes”, số 6). Trách vụ của toàn thể Giáo hội (bao gồm mọi Ki-tô hữu, mọi thành phần Dân Chúa – không phân biệt giáo sĩ hay giáo dân) là phải loan báo Tin Mừng.
 
C- TÍNH CHẤT CÁNH CHUNG CỦA HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO:

Hoạt động truyền giáo là trường kỳ, là miên viễn, khơi nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi truyền sang con người là loài thụ tạo, trải qua thời gian thật dài (Cựu Ước), trước khi Đức Giê-su Ki-tô được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian lần thứ nhất, và chỉ chấm dứt khi không còn sự hiện diện của loài người trong vũ trụ. Nói khác hơn, “thời gian hoạt động truyền giáo là thời gian ở giữa hai lần Chúa đến; và khi Chúa đến lần thứ hai, Giáo hội ví như mùa gặt được thu góp vào Nước Chúa từ bốn phương trời. Thực vậy, trước khi Chúa đến, Phúc Âm phải được rao giảng cho mọi dân tộc.” (Sắc lệnh “Ad Gentes”, số 9).

Vào những thời điểm thuận tiện và cần thiết đáp ứng nhu cầu của thời đại, Giáo hội thường phát động và mở ra những tiêu điểm truyền giáo, nhằm nhắc nhở và thúc đẩy mọi Ki-tô hữu nhớ đến sứ mạng chính yếu của mình, đồng thời tác động vào tiềm năng loan báo Tin Mừng nơi mỗi Ki-tô hữu. Đó chính là lý do các Năm Thánh, Đại Năm Thánh được mở ra, và cho dù có nhiều chủ đề được nêu lên, nhưng tựu trung vẫn là phục vụ cho một mục đích duy nhất mà Hội Thánh Chúa hằng theo đuổi, đó là Truyền Giáo.
 
II.- TRUYỀN GIÁO: SỨ VỤ NHẤT QUÁN CỦA KI-TÔ HỮU:
 
A- KI-TÔ HỮU VỚI 3 CHỨC VỤ CỦA ĐỨC KI-TÔ:

Nhờ bí tích Thánh Tẩy, mọi Ki-tô hữu được tháp nhập vào chính Thân Thể Đức Giê-su Ki-tô, như những cành nho tháp nhập vào với thân cây nho duy nhất, hút nhựa và trổ sinh hoa trái. Cũng từ đó, người Ki-tô hữu được “trở nên Dân Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ Tư tế, Ngôn sứ, Vương giả của Chúa Ki-tô” (Hiến chế Tín Lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, số 31).

+ Tư Tế: Dâng cuộc sống riêng tư của bản thân làm của lễ, như Đức Ki-tô trong hy tế thập giá (Tư: riêng từng người, Tế: lễ dâng, lễ tế). Mọi hoạt động, kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, kể cả những thử thách của cuộc sống, nếu người tín hữu kiên trì đón nhận và chu toàn trong Thánh Thần, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giê-su Ki-tô; vì những của lễ ấy được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Mình Thánh Chúa khi cử hành lễ tạ ơn (“Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giê-su Ki-tô.” – 1Pr 2, 5). Như thế, giáo dân, nhờ biết phụng thờ Thiên Chúa, sẵn sàng cung hiến thế giới này cho Người bằng hành động thánh thiện khắp nơi.

Trong chiều hướng đó, hiến chế “Lumen Gentium” (số 34) đã giải thích: “Chúa Giê-su Ki-tô, Linh Mục thượng phẩm và vĩnh cửu, vì cũng muốn giáo dân tiếp tục công việc chứng tá và việc phục vụ của mình, nên đã nhờ Thánh Thần ban cho họ sự sống, và không ngừng thôi thúc họ thực hành những điều thiện hảo. Thực vậy, những kẻ mà Người đã cho tham dự mật thiết vào sự sống và sứ mệnh Người, Người cũng cho họ dự phần vào chức vụ tư tế, để họ thực hành việc phụng thờ thiêng liêng hầu tôn vinh Thiên Chúa và cứu rỗi loài người. Bởi thế, vì giáo dân đã được hiến dâng cho Chúa Ki-tô và được Thánh Thần xức dầu, nên họ được mời gọi và được ban ơn cách lạ lùng để Thánh Thần sinh hoa trái nơi họ ngày càng phong phú hơn.”

+ Ngôn Sứ: Trước đây, dùng tiếng Tiên Tri (biết trước, ý muốn nói là người biết trước kết quả việc mình tin theo, làm theo; lời tiên tri tức là lời được báo trước về những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai); nhưng sau dùng tiếng Ngôn sứ phù hợp và cụ thể hóa chức vụ của Đức Ki-tô khi Người được Chúa Cha sai xuống trần gian rao giảng Tin Mừng và thực hiện việc cứu độ nhân loại, và đó cũng là lý do gọi mầu nhiệm “Ngôi Hai giáng trần” là “Ngôi Lời nhập thể”. Ngôn sứ có nghĩa là người được sai đi rao giảng Lời Chúa (Ngôn: lời nói, Sứ: người được sai đi). Đó chính là công việc loan báo Tin Mừng, mở mang Nước Chúa, mà từ trước khi Chúa Ki-tô giáng trần, Thiên Chúa đã sai một số người thực hiện (như các Tiên tri, Ngôn sứ trong Cựu Ước). Kể từ khi Chúa Giê-su được Thiên Chúa Cha sai đi như một ngôn sứ, thì Người đã sai toàn thể môn đệ làm những việc mà Người đã và đang làm.

Kể từ Tân Ước, việc được sai đi mang tính tập thể hơn Cựu Ước (“Việc tham gia vào trách vụ rao giảng của Đức Ki-tô ‘là Đấng lấy cả cuộc sống mình cũng như lấy sức mạnh của lời nói để tuyên bố vương quốc Chúa Cha’, sự tham gia này làm cho người giáo dân có đủ năng-cách và dấn thân để nhận lãnh Phúc Âm trong Đức Tin, để rao giảng bằng lời nói và hành động, và để tố cáo một cách bạo dạn không do dự những gì là điều ác. Người tín hữu giáo dân hợp nhất với Đức Ki-tô ‘vị Đại Tiên Tri’ (Lc 7, 16) và được đặt làm "chứng nhân" của Đức Ki-tô Phục Sinh trong Chúa Thánh Thần, họ trở thành những người tham dự vào ý thức Đức Tin siêu nhiên của Giáo hội ‘không thể sai lầm trong Đức Tin’ cũng như tham gia vào ân sủng của lời nói (Acts. 2, 17-18, Ap. 19, 10). Hơn nữa họ được gọi để chiếu sáng sự mới lạ và sức mạnh của Phúc Âm trong đời sống thường ngày, trong đời sống gia đình và xã hội của họ, cũng như để diễn tả niềm hy vọng vinh quang ‘ngay cả trong những cơ cấu của cuộc sống trần thế (L.G. 35) với một tâm hồn nhẫn nại và can đảm giữa những khó khăn của thời hiện đại.” – Tông huấn Ki-tô hữu Giáo Dân “Christi Fideles Laici”, số 14).

+ Vương giả: Vương giả là ông vua, người lãnh đạo (Vương: vua, Giả: ông, người). Tham dự vào chức vụ Vương giả, ngụ ý tham dự vào công việc của Vua Giê-su; mà Vua Giê-su khác hẳn những ông vua phong kiến ở trần thế (ngồi thụ hưởng, được mọi người phục vụ hết mình), Vua Giê-su thì “Thầy đến để phục vụ chớ không phải để được phục vụ” (Mt 20, 28). Được tham dự vào chức vụ Vương giả có nghĩa là được làm chủ: Làm chủ bản thân, làm chủ trần thế. Đó chính là tinh thần dân chủ đích thực giúp người tín hữu nhận biết bản tính sâu xa của tạo vật cùng với giá trị của chúng, và cùng đích của chúng là ca ngợi Thiên Chúa. Đồng thời với sự hiểu biết ấy, người tín hữu giúp nhau sống đời thánh thiện, nhờ những việc trần thế, để thế gian thấm nhuần tinh thần Chúa Ki-tô và đạt đến cùng đích một cách hữu hiệu hơn trong công lý, bác ái và hòa bình.

Thực vậy, “Giáo dân giữ lấy vai trò chính yếu trong khi chu toàn nhiệm vụ phổ quát đó. Nhờ khả năng chuyên môn trong những việc trần thế, nhờ các hoạt động của họ, những hoạt động được ân sủng Chúa Ki-tô nâng lên bậc siêu nhiên, giáo dân hãy đem toàn lực hợp tác để nhờ lao công con người, kỹ thuật và văn hóa nhân loại khai thác những của cải được tạo dựng hầu mưu ích cho mọi người và phân chia cân xứng hơn giữa họ theo ý định của Ðấng Tạo Hóa và sự soi sáng của Ngôi Lời Ngài; và tùy cách thức riêng của chúng, chúng giúp phát triển toàn diện sự tự do của con người và sự tự do của Ki-tô hữu. Như thế, nhờ các phần tử của Giáo hội, Chúa Ki-tô sẽ đem ánh sáng cứu độ của Người chiếu soi toàn thể nhân loại mỗi ngày một hơn.” (Hiến chế “Lumen Gentium”, số 36).
 
B- GIÁO HỘI LÀ MỘT CỘNG-ĐỒNG-HIỆP-THÔNG-VÀ-TRUYỀN-GIÁO:

Như đã trình bày, căn tính, chân tính của Giáo hội là truyền giáo, là loan báo Tin Mừng Cứu Độ, là chia sẻ cho nhau Tình Yêu vô lượng của Thiên Chúa. Rõ ràng Giáo hội là một tập thể, một cộng đồng sống tình huynh đệ chan hòa yêu thương trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, như lời chúc của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần.” (2Cr 13, 13). Có thể khẳng định Giáo hội là một-cộng-đồng-hiệp-thông-và-truyền-giáo, vì “Qua mọi thời đại, Chúa Thánh Thần "hợp nhất toàn thể Giáo hội trong mối hiệp thông và thừa hành, ban phát các ơn phẩm trật và đặc sủng khác nhau", như là linh hồn làm sống động những Tổ chức trong Giáo hội và đổ vào lòng các tín hữu cũng một tinh thần truyền giáo đã thúc đẩy chính Chúa Ki-tô. Ðôi khi Chúa Thánh Thần lại chuẩn bị một cách hữu hình cho hành động truyền giáo, cũng như không ngừng dùng những phương thế khác nhau để theo sát và hướng dẫn vậy.” (Sắc lệnh “Ad Gentes”, số 4).

Tại sao vậy? Ấy cũng bởi “Sự hiệp thông và việc truyền giáo gắn liền với nhau, xâm nhập và quấn quít nhau và đã trở nên như nguồn mạch, và là hoa trái của việc truyền giáo. Hiệp thông là truyền giáo, và truyền giáo có mục đích thể hiện sự hiệp thông. Chính một Chúa Thánh Thần kêu gọi và hiệp nhất Giáo hội và sai Giáo hội đi rao giảng Phúc Âm "khắp trên mặt đất" (Acts. 1, 8). Còn Giáo hội, Giáo hội biết sự hiệp thông là ơn Chúa, nó có sứ mệnh đốí với mọi người. Như thế Giáo hội cảm thấy mắc nợ đã nhận lãnh từ Chúa Thánh Thần, Đấng đã ban tràn đức ái của Chúa Cha trong lòng các kẻ tin tưởng, là sức mạnh nốí kết bên trong và cũng là sức mạnh bành trướng bên ngoài. Sứ mệnh của Giáo hội nằm ngay trong bản tính của mình như Chúa Ki-tô đã muốn: đó là sứ mệnh phải trở nên "dấu chỉ và phương thế... làm cho toàn thể nhân loại được hợp nhất". Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông "mới" ; sự hiệp thông đi vào lịch sử thế giới nhờ con Thiên Chúa làm người.” (Tông huấn “Christi Fideles Laici”, số 32). Chính vì thế, tất cả mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo hội đều sống hiệp thông huynh đệ với nhau để cùng thực thi sứ vụ chung là "đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15).
 
C- TÍNH CHẤT CÁCH TÂN (ĐỔI MỚI) VÀ NHẤT QUÁN (THỐNG NHẤT) TRONG SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO:

Kể từ khi được Thiên Chúa dựng nên và hiện diện trên trái đất, nếu loài người cùng thực hành, thực thi một công việc nào đó cho đến lúc thế giới cánh chung, thì đó chính là tính cách nhất quán của công việc ấy. Vậy thì từ khi những Ki-tô hữu được ơn gọi trở nên Dân Thiên Chúa, chỉ được trao có một nhiệm vụ duy nhất, cao cả nhất là rao giảng Tin Mừng cứu độ, thì sứ vụ ấy đã mang tính nhất quán (trước sau là một, chỉ có một mà thôi). Sứ vụ được trao tuy chỉ là một, là bất di bất dịch, là bất biến, nhưng lại luôn luôn thích nghi với thời đại, với từng giai đoạn trong trường kỳ lịch sử nhân loại, luôn phù hợp với từng hoàn cảnh địa dư, thì đó chính là tính chất cách tân (đổi mới) của hoạt động truyền giáo của Giáo hội.

Từ thời Cựu Ước, vấn đề truyền giáo đã được đặt ra. Đến thời Tân Ước, chính Đức Giê-su Ki-tô thực hiện việc truyền bá Phúc Âm thông qua Hy tế Thập Giá và sự Phục Sinh vinh hiển của Người – một cuộc canh tân vĩ đại đã mở ra phương hướng “trời mới đất mới” cho loài người. Khi hoàn tất sứ mạng, trong ngày lễ Ngũ Tuần, Đức Ki-tô lại phán cùng các môn đệ: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (Ga 20, 19-23). Đó là Giáo hội sơ khai do chính Đức Ki-tô thiết lập với viên đá tảng đầu tiên là Thánh Phê-rô. Trải qua 2000 năm lịch sử, với các Công Đồng Chung, Giáo hội luôn luôn kiện toàn và đổi mới phương cách trong sứ vụ duy nhất là truyền giáo cho phù hợp với từng giai đoạn, từng bối cảnh lịch sử loài người. Đặc biệt và gần đây nhất là Thánh Công Đồng Chung Va-ti-ca-nô II (1962-1965) đã làm một cuộc canh tân vĩ đại chưa từng thấy trong lịch sử Giáo hội.

Cả một triều đại Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II (và vẫn được tiếp nối tới triều đại đương kim: Đức GH Phan-xi-cô), một khẩu hiệu luôn luôn được nhắc đi nhắc lại và tận tâm, tận lực thực hiện là khẩu hiệu “Canh tân và sám hối” (Tông huấn “Christi Fideles Laici”, 34). Rõ ràng việc rao giảng Tin Vui Cứu Thế luôn luôn thích nghi với thời đại và là sợi chỉ vàng xuyên suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của Giáo hội. Sự thích nghi với từng thời điểm của lịch sử nhân loại là tính chất cách tân (đổi mới), và phải chăng sợi chỉ vàng xuyên suốt ấy là tính chất nhất quán (duy nhất) của hoạt động truyền giáo của Giáo hội? Cũng có thể khẳng định rằng để có Giáo hội (Giáo hội hiện hữu) và để Giáo hội mãi mãi tồn tại (Giáo hội bất biến), điều tất yếu là phải Truyền Giáo.
 
III.- KẾT LUẬN:

Tóm lại, tự bản chất, Giáo hội là một cộng đồng, một tập thể bao gồm tất cả Dân Thiên Chúa. Tất cả và mỗi Ki-tô hữu là thành phần của Giáo hội, bởi vì họ đã là “cành nho của thân cây nho duy nhất là Đức Giê-su”. Mỗi cành nho hút nhựa từ thân cây nho để tồn tại và trổ sinh hoa trái, và việc trổ sinh hoa trái ấy chính là một sứ vụ đáp trả ân sủng nguồn nhựa đã hút được. Nói khác hơn, việc trổ sinh hoa trái chính là việc “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16, 15). Và đó chính là sứ vụ Truyền Giáo mà Giáo hội được chính vị hôn phu Giê-su Ki-tô trao phó, để tiếp nối hành trình cứu độ nhân loại. Vâng, và xin mượn lời dạy của Sắc lệnh Truyền Giáo “Ad Gentes” (số 9), để một lần nữa minh họa hoạt động trong sứ vụ chung của tất cả những Ki-tô hữu trong Giáo hội:

“Hoạt động truyền giáo không gì khác hơn, cũng không gì kém hơn là biểu lộ hoặc bày tỏ ý định của Thiên Chúa và hoàn tất ý định đó nơi trần thế và trong lịch sử thế trần, chính trong lịch sử này mà Thiên Chúa hoàn thành lịch sử cứu rỗi một cách rõ rệt nhờ việc truyền giáo. Nhờ lời rao giảng và việc cử hành các bí tích, mà trung tâm và tuyệt đỉnh là phép Thánh Thể, hoạt động truyền giáo làm cho Chúa Ki-tô, Ðấng tác thành công trình cứu rỗi được hiện diện. Tất cả những gì là chân lý và ân sủng đã được tìm thấy nơi các dân tộc như một sự hiện diện bí ẩn của Thiên Chúa sẽ được hoạt động truyền giáo giải thoát cho khỏi bị nhiễm độc, và hoàn lại cho Chúa Kitô là Ðấng tác thành chúng, Ðấng đã lật đổ nước ma quỷ và chận đứng sự dữ muôn hình của tội lỗi.

Bởi vậy, bất cứ điều gì tốt đẹp được nhận biết là đã được gieo vãi trong tâm trí con người, hay trong những lễ chế và văn minh riêng của các dân tộc, sẽ không bị hủy diệt, mà còn được thanh tẩy, thăng tiến và hoàn tất, để Chúa được tôn vinh, ma quỷ bị xấu hổ và con người được hạnh phúc. Vì thế, hoạt động truyền giáo hướng về sự viên mãn cánh chung: nhờ hoạt động truyền giáo này, Dân Chúa được phát triển tới mức độ và thời gian mà Chúa Cha đã ấn định do quyền riêng của Ngài như lời tiên tri nói với Dân này rằng: ‘Hãy mở rộng nơi con cắm trại, hãy căng rộng lều vải của con, đừng ngần ngại’ (Is 54, 2). Cũng nhờ hoạt động truyền giáo, Nhiệm Thể được triển nở đến thời hạn viên mãn của Chúa Ki-tô, và đền thờ thiêng liêng, nơi Thiên Chúa được thờ lạy trong tinh thần và chân lý, sẽ lớn lên và được xây dựng ‘trên nền móng là các Tông đồ và các Tiên tri mà chính Chúa Giê-su Ki-tô là viên đá góc’ (Ep 2, 20).”

Để đạt được ước nguyện, xin hãy làm theo lời dạy của ĐTC Phan-xi-cô: “Anh chị em thân mến, khi thi hành việc truyền giáo của mình, chúng ta hãy lấy nguồn cảm hứng từ Đức Maria, Mẹ của công cuộc Phúc âm hoá. Được Thần Khí thúc đẩy, Mẹ đã đón nhận Lời sự sống trong đức tin khiêm cung thâm sâu của Mẹ. Xin Đức Trinh Nữ giúp chúng ta nói lên lời “xin vâng” của mình, khi ý thức nhu cầu cấp bách phải làm cho Tin Mừng của Đức Giê-su vang dội trong thời đại chúng ta. Xin Mẹ cầu Chúa ban cho chúng ta nhiệt tâm mới để đem Tin Mừng đến với mọi người, là Tin Mừng của sự sống chiến thắng sự chết. Xin Mẹ chuyển cầu cho chúng ta có được sự táo bạo thánh thiện cần thiết để khám phá ra những cách mới hầu đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người.” (Sứ điệp Truyền Giáo 2017, số 10).
Ước được như vậy. Amen.
 
JM. Lam Thy ĐVD. 
RẠCH RÒI BỔN PHẬN

KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN NĂM A (22/10/2017)
[Is 45,1.4-6; 1 Tx 1,1-5b; Mt 22,15-21]

https://ytukpiensas.files.wordpress.com/2015/06/41_render-unto-caesar-and-unto-god_1800x1200_300dpi_2.jpg
 

Người Việt có câu: “Ăn cây nào, rào cây nấy”. Đó là nói về bổn phận phải thực hiện. Người ta cũng có cách nói khác: “Của thiên trả địa”. Đó là nói về tình trạng sở hữu, nhưng mang nghĩa xấu, với ý nói rằng cái gì không là của mình thì không thể giữ được, tương tự kiểu nói: “Của phi nghĩa có giàu đâu!”.
 
Quyền sở hữu liên quan bổn phận. Chắc chắn không ai lại không có gì sở hữu, hiểu đơn giản là “quyền làm chủ”, và như thế thì ai cũng có bổn phận. Hoàn toàn hợp lý. Quyền sở hữu là quyền cơ bản nhất của mỗi con người, bất kỳ ai. Trong lĩnh vực tài chính, người ta còn có “quyền sở hữu chéo” (ngân hàng này sở hữu ngân hàng khác, doanh nghiệp này sở hữu một doanh nghiệp khác,... mối quan hệ vừa trực tiếp vừa gián tiếp – khái niệm “lạ” này mới xuất hiện từ thập niên 1980). Kể cũng lạ, nhưng phần nào nói lên mối liên đới lẫn nhau.
 
Thời gian và tự do là đặc ân mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta, nghĩa là chúng ta có quyền sở hữu hai thứ đó. Tuy nhiên, chúng ta KHÔNG LÀM CHỦ mà CHỈ QUẢN LÝ. Rất rạch ròi, vì chính Chúa Giêsu đã minh định: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3:27). Thật đúng như vậy, khi nói về một tài năng nào đó, người ta dùng chữ “thiên phú” – tức là “trời cho” đó thôi. Tác giả sách Giảng Viên cảm nhận: “Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân BIẾT KÍNH SỢ NGƯỜI” (Gv 3:12-14). Vấn đề quan trọng là người nào đó có tài năng mà còn biết kính sợ Chúa hay không, còn biết khiêm nhường hay không. Chứ ảo tưởng thì “chết chắc” thôi! Vả lại, Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).
 
Thuở xưa, Thiên Chúa đã phán với vua Kyrô, người được Ngài xức dầu: “Ta đã cầm lấy tay phải nó, để bắt các dân tộc suy phục nó, Ta tước khí giới của các vua, mở toang các cửa thành trước mặt nó, khiến các cổng không còn đóng kín nữa” (Is 45:1). Ngài giải thoát ai, người đó thuộc quyền sở hữu của Ngài. Chúng ta cũng được Thiên Chúa cứu độ bằng Giá Máu của Đức Giêsu Kitô, Con Một Yêu Dấu của Ngài, vậy chúng ta cũng thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Đức Kitô và mặc lấy Đức Kitô (Gl 3:27), thuộc dòng dõi Áp-ra-ham và được thừa kế (Gl 3:29). Mà những ai thuộc về Thiên Chúa thì phải vâng lời Ngài (Ga 8:47). Đó là điều quan trọng, là bổn phận và trách nhiệm cả đời!
 
Với lòng thương xót vô biên và sự ân cần tha thiết, Thiên Chúa giải thích: “Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Giacóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta. Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta. Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ, để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta. Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác” (Is 45:4-6). Thiên Chúa nhấn mạnh tính cao cả duy nhất của Ngài bằng cách lặp đi lặp lại: “Ta là Đức Chúa, KHÔNG CÒN CHÚA NÀO KHÁC”. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta chỉ được phép tôn thờ một mình Ngài. Và thật diễm phúc, chúng ta đã nhận ra điều này, để rồi chúng ta đang tôn thờ Ngài và không ngừng nỗ lực học bài học yêu của Ngài. Cũng như dân Ít-ra-en, chúng ta được trở nên dân riêng của Ngài. Nhưng đừng vì thế mà ỷ lại hoặc ảo tưởng!
 
Chúng ta hoàn toàn bất xứng, bởi vì “con tim là tro bụi, hy vọng hèn hơn đất, cuộc đời tệ hơn bùn” (Kn 15:10), thế nhưng Thiên Chúa vẫn quan tâm, chăm sóc và hết mực yêu thương chúng ta, Ngài còn khuyến khích chúng ta như đã động viên dân Ít-ra-en xưa: “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta!” (Is 43:1). Dân Ít-ra-en là “vật sở hữu” của Thiên Chúa, chúng ta cũng thế. Ngày nay cũng có những thứ thuộc về Thiên Chúa, tương tự như Dân Riêng vậy. Đó là những thứ thuộc quyền sở hữu của Ngài, ai dám liều mạng mà “đụng chạm” đến những gì của Chúa thì “kẹt lắm” đấy. Phàm nhân chúng ta thật diễm phúc: “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8:5).
 
Thế gian không có gì trường tồn, chẳng có chi vĩnh cửu. Mọi sự ở dưới bầu trời này đều có lúc, mọi việc đều có thời. Ngay cả chuyện ăn uống và hưởng những thành quả do công lao khó nhọc mình làm ra, tức là tận hưởng những gì mình sở hữu, điều đó đã là một món quà Thiên Chúa ban tặng rồi (x. Gv 3:1-12). Vâng, tất cả chỉ là phù vân, chúng ta “chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49:13), chẳng có gì bền vững, chỉ có Thiên Chúa là Đấng vạn đại trường tồn (Tv 102:25). Biết mình hữu hạn, biết Chúa vô hạn, để mà hết lòng tôn thờ và tán tụng Thiên Chúa. Cảm nhận niềm hạnh phúc này, Thánh Vịnh gia không thể lặng im nên đã mời gọi: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” (Tv 96:1).
 
Trong Kinh Nguyện Thánh Thể, Giáo hội minh định rằng việc chúng ta ca tụng Chúa chẳng thêm gì cho Thiên Chúa, nhưng đem lại ơn cứu độ cho chúng ta. Việc ca tụng Thiên Chúa không chỉ là trách nhiệm và bổn phận của chúng ta mà còn là niềm hạnh phúc của chúng ta: “Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người. Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần, vì chư thần các nước thảy đều hư ảo, còn Đức Chúa, Người sáng tạo trời cao” (Tv 96:3-5). Ca tụng Chúa khi chúng ta may mắn, đó là điều dễ thực hiện, nhưng ca tụng Chúa ngay cả khi cuộc đời chúng ta không “xuôi chèo mát mái”, đó mới là điều khó thực hiện – nhưng làm được vậy mới có giá trị cao. Trong đau khổ tận cùng, ông Gióp vẫn rạch ròi đặt vấn đề với người vợ vô tâm vô tính: “Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao?” (G 2:10).
 
Sinh ra tay trắng, chẳng có hành lý gì vào đời, nhưng Thiên Chúa vẫn ban cho chúng ta mọi thứ (cả vật chất lẫn tinh thần), thế mà chúng ta vô tâm cho rằng đó là “dĩ nhiên”, đã không biết tạ ơn thì thôi, chúng ta lại còn “so đo” và cho rằng mình không được may mắn như người khác. Thật ra đó là ý mình, không phải Ý Chúa. Đôi khi chúng ta chỉ muốn ép Chúa theo ý mình. To gan lắm đấy!
 
Sự thật minh nhiên là Thiên Chúa luôn xứng đáng để chúng ta xưng tụng mọi nơi và mọi lúc. Thật vậy, Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi: “Hỡi các dân các nước, hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang, hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người. Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện, toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan. Hãy nói với chư dân: Chúa là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng” (Tv 96:7-10). Thật hạnh phúc khi nhận biết và xưng tụng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa duy nhất, chắc chắn không có Đấng nào khác.
 
Chúng ta chẳng có gì, tất cả là của Chúa, Ngài sở hữu tất cả. Đúng vậy, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm nên trò trống gì, chỉ là đồ vô tích sự (x. Ga 15:5 và Lc 17:10). Vậy vì cớ gì mà chúng ta lại không tôn vinh và không tạ ơn Thiên Chúa? Có ai đau khổ bằng ông Gióp? Thế mà trong lúc đau khổ đến tột cùng, mất hết mọi vật sở hữu, từ của cải tới con cái, nhưng ông Gióp vẫn “không hề phạm tội cũng không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” (G 1:22). Thiên Chúa đã xác nhận với Satan về ông Gióp: “Chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó: một con người vẹn toàn, ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác” (G 1:8). Đó là 4 “điểm son” của Thánh Gióp, đồng thời là một tấm gương to lớn và sáng chói để chúng ta soi vào. Cuộc đời có khi chưa đến nỗi nào mà chúng ta đã than trách đủ thứ. Còn lâu thật là lâu chúng ta mới có thể “xách dép” chạy theo Thánh Gióp. Thật vậy, vác thập giá đâu có sướng, đâu có nhàn, không thể cứ tà tà mà vác rồi lại đòi này hỏi nọ!
 
Trách nhiệm và bổn phận của chúng ta không chỉ phải biết tạ ơn và cầu nguyện cho mình mà còn phải tạ ơn và cầu nguyện cho người khác, đồng thời còn phải biết ơn nhau nữa. Thánh Phaolô cho biết: “Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện, và trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô” (1 Tx 1:2-3). Đó là sợi dây liên đới trong tình yêu Kitô giáo, thật là tuyệt vời biết bao!
 
Tiếp theo, Thánh Phaolô vừa giải thích vừa xác định: “Anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em, vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa. Anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em” (1 Tx 1:4-5). Thánh Phaolô nói với giáo đoàn Thêxalônica nhưng cũng là nói với chính chúng ta – mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi hội đoàn, mỗi giáo xứ, mỗi giáo phận, mỗi tu viện, mỗi chủng viện,...
 
Người ta có câu: “Nhà có gia phong, nước có quốc pháp”. Quốc gia nào cũng có hiến pháp – nhưng hiến pháp phải hợp lòng dân, không thể tự ý ra luật “tùy hứng” rồi bắt người khác thực hiện, theo kiểu “luật rừng”. Luật có sau con người. Luật vị nhân sinh, luật vì con người. Luật giúp con người sống tốt hơn và giúp duy trì trật tự. Nên giữ luật nhưng đừng câu nệ luật, cứng ngắc theo “chữ đỏ”. Tương tự, người ta nói rằng “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên”. Trong ba người cùng đi cũng có một người là thầy, có khả năng hướng dẫn hai người kia – tức là có thể “làm luật”. Dù là luật gì cũng phải vì yêu thương, không thể làm luật để “hành hạ” người khác.
 
Tin Mừng hôm nay là trình thuật Mt 22:15-21, đề cập quyền sở hữu. Một hôm, những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy. Không chỉ vậy, họ còn cấu kết với phe Hêrôđê – kẻ nham hiểm và hèn nhát. Quả thật, họ sai các đệ tử của họ cùng đi với những người theo phe Hêrôđê đến nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?” (Mt 22:16-17). Ra vẻ chân thành nhưng chỉ là mưu mô xảo quyệt. Đó là những người “miệng nam-mô mà bụng một bồ dao găm”. Kinh khủng thật! Ngày nay cũng vẫn không thiếu những kẻ nham hiểm như vậy.
 
Sự thật mãi là sự thật. Vải thưa không thể che mắt thánh! Chúa Giêsu biết tỏng mưu thâm kế độc của họ nên Ngài thẳng thắn nói: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình? Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!”. Họ thường xuyên bị Chúa Giêsu trách mắng thẳng mặt và nguyền rủa, thế mà họ vẫn cứ trơ trơ. Họ thuộc loại “mặt dày”, vẫn thản nhiên đưa cho Ngài một quan tiền. Ngài vừa chỉ đồng tiền vừa hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây?”. Họ vẫn đáp tỉnh queo: “Của Xêda”. Thật trơ trẽn, tồi tệ! Bấy giờ, Ngài bảo họ: “Thế thì của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” (Mt 22:21). Cái gì của ai thì trả cho người đó, vì đó là quyền sở hữu của họ, tất nhiên cũng không ai có quyền chiếm hữu bất cứ thứ gì của người khác – dù vật thể hay phi vật thể. Ôi, câu trả lời của Chúa độc đáo vô cùng! Nghe vậy, họ ngạc nhiên lắm, nhưng cũng đành câm họng và bỏ đi!
 
Chắc chắn ai cũng khả dĩ hiểu rằng cái gì của người khác thì không thuộc quyền sở hữu của mình, chớ có nổi lòng tham hoặc rờ tới. Hai điều Thiên Chúa đã nghiêm cấm trong Thập Giới là “chớ LẤY của người” và “chớ THAM của người” (Giới răn thứ bảy và thứ mười). Thế nhưng có một số người có khái niệm lệch lạc thế này: “Cho không lấy, thấy không xin, kín thì rình, hở thì rinh”. Nguy hiểm quá! Cuộc sống có nhiều dạng sở hữu, nhưng cần phải biết phân biệt rạch ròi: Cái gì thuộc về trần tục, và cái gì thuộc về tâm linh. Đừng lầm lẫn để rồi râu ông nọ lại đem cắm cằm bà kia. Vâng lời quyền bính thế gian cũng là vâng lời Thiên Chúa, nếu khoản luật đó hợp với công bình và bác ái.
 
Con người có hai phần – hồn và xác, thế nên cũng có hai dạng trách nhiệm rạch ròi, không thể lẫn lộn với nhau. Thánh Phaolô nói về nhà chức trách: “Làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi, vì chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa để giúp bạn làm điều thiện. Nhưng nếu bạn làm điều ác thì hãy sợ, vì họ mang gươm không phải không có lý do. Thật vậy, họ là người thừa hành của Thiên Chúa để giáng cơn thịnh nộ của Người xuống kẻ làm điều ác. Vì lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm” (Rm 13:3-5). Ở đây có ý nói “lương tâm ngay lành”, chứ không đề cập dạng “lương tâm lệch lạc”.
 
Cũng nên lưu ý loại lương tâm bị “chai cứng” hoặc “lệch lạc”, loại lương tâm như vậy không đủ mức phân biệt phải hoặc trái. Đó là loại lương tâm rất nguy hiểm, vì không còn cảm thức tội lỗi. Ngày nay chúng ta thấy xuất hiện những người tự xưng là thuộc tổ chức IS (Islamic State – Nhà nước Hồi giáo), họ giết người rất dã man vì họ cho đó là “điều chính nghĩa”, là “thánh chiến” (sic!). Ngay cả các trẻ em vô tội cũng bị họ sát hại dã man. Đã từng có đợt họ hành hạ dã man khoảng 70.000 trẻ em. Niềm tin tôn giáo của họ lệch lạc nên hóa bất nhân quá!
 
Rất rạch ròi, Thánh Phaolô đã dặn dò đệ tử Titô: “Anh hãy nhắc nhở cho ai nấy phải phục tùng và tuân lệnh các nhà chức trách, các người cầm quyền, phải sẵn sàng làm mọi việc tốt, và đừng chửi bới ai, đừng hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người” (Tt 3:1-2). Những mệnh lệnh cách rất mạnh mẽ, dù theo thể phủ định hoặc xác định!
 
Nhưng rồi tất cả cũng chỉ là phù vân, và mọi thứ sẽ qua đi. Chắc chắn không có gì trường tồn ở thế gian này, ngay cả những gì chúng ta đang sở hữu cũng không thuộc về chúng ta mãi mãi, thậm chí kể cả sự sống: “Chúa lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104:29). Những gì chúng ta sở hữu và thuộc về chúng ta mãi mãi chính là các nhân đức. Loại “vật sở hữu” này rất quan trọng, gọi là “công trạng”, vì đó sẽ là chứng cớ hùng hồn bênh vực cho chính chúng ta, chỉ nhờ đó mà chúng ta được trở thành Công Dân Nước Trời – dĩ nhiên trước tiên phải nhờ công cuộc cứu độ của Đức Giêsu Kitô.
 
Có Chúa thì mới có tất cả, Thánh Tiến sĩ Thomas Aquinas (1225-1274, người Ý, linh mục Dòng Đa-minh) rất khôn ngoan khi cầu xin: “Con chỉ muốn Chúa thôi!”. Đó là điều duy nhất mà mỗi chúng ta phải nỗ lực để khả dĩ “sở hữu” mãi mãi! Còn Thánh Tiến sĩ Gioan Thánh Giá (1542-1591, người Tây Ban Nha, linh mục Dòng Camêlô), khi Chúa hỏi “muốn phần thưởng gì”, thánh nhân trả lời: “Xin cho con chịu ĐAU KHỔ và chịu SỈ NHỤC vì Chúa”. Đó là dạng sở hữu rất đặc biệt, đồng thời cũng là trách nhiệm và bổn phận. Rất rạch ròi! Và có một loại thuế đặc biệt mà chúng ta phải nộp cho Thiên Chúa: Mến Chúa – Yêu Người.
 
Hôm nay là Chúa Nhật áp chót của tháng Mười, theo truyền thống Công giáo là Ngày Khánh nhật Truyền giáo, ngày cổ vũ ơn thiên triệu linh mục và dâng hiến, nói đơn giản là “ơn gọi đi tu”. Tưởng cũng nên nhắc lại rằng Ngày Thế giới Truyền Giáo được ĐGH Piô XI khai sinh từ năm 1926.
 
Ngày 4-6-2017, Tòa Thánh đã chính thức công bố Sứ điệp Khánh nhật Truyền giáo Năm 2017. Trong đó, ĐGH Phanxicô đề cập việc thực hiện sứ vụ truyền giáo của chúng ta cùng với Mẹ Maria: “Trong việc thực thi sứ vụ truyền giáo của chúng ta, chúng ta hãy rút cảm hứng từ Mẹ Maria, Mẹ của việc Phúc Âm hóa. Được Thần Khí thúc đẩy, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa ở tận đáy đức tin khiêm tốncủa Mẹ. Nguyện xin Mẹ Đồng Trinh giúp chúng con nói lên lời ‘xin vâng’ của chính mình, ý thức về nhu cầu cấp bách để làm Tin Mừng của Chúa Giêsu vang lên trong thời đại của chúng con. Xin Mẹ giúp chúng con có lòng nhiệt thành mới trong việc mang đến cho tất cả mọi người Tin Mừng về sự sống, là sự sống đã chiến thắng sự chết. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng con để chúng con có thể có được sự táo bạo thánh thiện cần thiết để khám phá ra những cách thức mới ngõ hầu mang lại ơn cứu độ cho mọi người nam nữ” (số 10).
 
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết nhận thức đúng đắn về đức tin, đức ái, trách nhiệm và bổn phận của con. “Ngày là của Chúa, đêm cũng là của Chúa”
(Tv 74:16), “trời là của Chúa, đất cũng là của Chúa” (Tv 89:12), con chẳng có gì, xin triệt tiêu tính kiêu ngạo trong con, và xin đổ “máu hồng thương xót” vào trái tim của mọi người để tất cả NÊN MỘT (Ga 17:20-23) theo Tôn Ý Con Yêu Dấu của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
 
TRẦM THIÊN THU

MỌI SỰ LÀ CỦA CHÚA, HÃY TRẢ THIÊN CHÚA

Dịp lễ Đức Mẹ La Vang, tháng 8 năm 2017 vừa qua. Khi đề cập đến tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, Đức Tổng Giám Mục Girelli nhận định rằng, tại một số tỉnh, nhà cầm quyền lo lắng và phàn nàn về người Công Giáo và các hành động của họ. Nhưng ngài khuyên nhà cầm quyền CSVN nên nhận thức rằng, Giáo Hội Công Giáo nên được xem như một điều tích cực, thay vì một điều có vấn đề đối với đất nước.

Trích câu nói thời danh của Chúa Giêsu rằng: "Trả cho Caesar những gì của Caesar, và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa". Đức Tổng Giám Mục Leopoldo nói tự do tôn giáo không phải cái gì thuộc về các quan chức chính quyền, mà phải nằm trong tay của người dân. Ông kêu gọi "các Caesar Việt Nam hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa".

Đoạn Tin Mừng hôm nay mang đầy tính thời sự vì chúng ta đang sống trong một thế giới con người muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài cuộc sống, hoặc nhận tất cả về mình, không còn kể đến Thiên Chúa nữa. Câu kết của đoạn Tin Mừng hôm nay đã trở thành lời bất hủ và ghi đậm dấu ấn trong lịch sử, trong tương quan phân chia, sở hữu thường ngày.

Thầy dạy bảo đường lối Thiên Chúa
 
Chúng ta khẳng định, Chúa Giêsu là Lời sống động của Thiên Chúa thế mà con người lại cố tìm để bắt lỗi Lời của Ngài! Con người nói : "Thầy dạy bảo đường lối Thiên Chúa", nhưng vẫn cứ hỏi: "Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?" (Mt 22, 17). Hỏi để mà hỏi, không phải để biết cho bằng gài bẫy. Thực tế nhóm Pharisiêu lại tự bẫy và trói chặt mình trong câu hỏi lưỡng nan ấy. Bằng cách từ chối đơn giản hóa vấn đề của đối phương, Chúa Giêsu đặt ra vấn đề căn bản mới và thiết yếu là : ai đứng vào vị trí Thiên Chúa?

Chính vì họ hỏi con đường của Thiên Chúa, "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy … dạy bảo đường lối Thiên Chúa" (Mt 22, 16), nên Người dẫn họ đi theo hướng đó, đây là tất cả giáo lý của Chúa. Thấu hiểu tâm tư của họ, Chúa bảo họ đưa cho xem đồng tiền, xem xong, thấy có khắc hình của một hoàng đế trên đồng tiền, họ khẳng định đó là hình của Cêsarê, Chúa nói: "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê" ( Mt 22, 21).

Thực tế, người Do thái không nhận biểu tượng hình ảnh này, dù Cêsarê được biết đến là một hoàng đế tự cọi mình là thần đi chăng nữa, ông cũng chỉ là một con người. Theo Lời Chúa trong sách Sáng Thế, chỉ có Thiên Chúa làm ra con người giống hình ảnh Chúa cách sống động : "Chúng ta làm ra con người giống hình ảnh chúng ta và giống chúng ta" (St 1, 26). Hãy trả đồng tiền này cho chủ nhân của nó và hãy trả cho Thiên Chúa linh hồn chúng ta.

Linh hồn chúng ta thuộc về Chúa
 
Đồng tiền mang hình ảnh của Cêsarê, nhưng linh hồn chúng ta là chính hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, thể theo thánh vịnh: " Lạy Chúa, xin tỏa ánh tôn nhan Người trên chúng tôi". (Tv 4, 7) ... Ánh tôn nhan Thiên Chúa là ánh của ân sủng ghi dấu trên chúng ta hình ảnh Ngài, làm cho chúng ta giống Ngài, ánh tôn nhan Chúa còn là ấn tích được ghi trong trí chúng ta, chúng ta nhận biết ai đó nhờ khuôn mặt của người ấy, thì Thiên Chúa cũng nhận biết chúng ta nhờ tấm gương của lý trí. Nhưng lý trí này đã bị biến dạng do tội lỗi con người, vì tội lỗi khiến con người chống lại Thiên Chúa. Ân sủng Đức Kitô sửa chữa lại lý trí chúng ta. Đó là lý do tại sao thánh Tông đồ Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Êphêsô rằng : " Hãy đổi mới tình thần " ( Ep 4, 23). Ánh sáng ở đây còn là ân sủng, nhằm phục hồi hình ảnh Thiên Chúa ghi khắc trong chúng ta.

Thiên Chúa Ba Ngôi đã khắc ghi vào con người hình ảnh giống Ngài. Con người giống Chúa Cha ở điểm trí nhớ, giống Chúa con ở trí hiểu, giống Chúa Thánh Thần ở chỗ biết yêu mến… khi tạo dựng, con người được dựng lên " giống hình ảnh Chúa" (St 1, 26). Hình ảnh trong sự nhận biết chân lý, tương tự trong nhân đức yêu thương. Ánh tôn nhan Thiên Chúa chính là ân sủng công chính hóa chúng ta và một lần nữa cho thấy hình ảnh được tạo ra. Ánh sáng này là tất cả những điều tốt đẹp nơi con người, được ghi dấu, như hình ảnh của nhà vua trên đồng tiền. Đó là lý do tại sao Chúa nói: "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê" (Mt 22, 21). Điều này ý nói : phải trả cho Cêsarê hình ảnh của Caesar, trả cho Thiên Chúa linh hồn anh em, đã được điểm tô và ghi dấu ánh sáng tôn nhan Thiên Chúa. Chúng ta không thể trao cho Cêsarê linh hồn của chúng ta, nó luôn thuộc về Chúa. 

Mọi sự là của Chúa
 
Lời Chúa Giêsu nói : "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa"( Mt 22, 21) xác lập một sự khác biệt sâu xa giữa thiêng liêng với thế trần, làm nền tảng cho sự tìm kiếm của người kitô hữu trên mặt đất này. Con người là trung tâm và tột đỉnh của sự sáng tạo, phẩm giá con người hiện nay được thừa nhận rộng rãi, tuy nhiên, khó khăn vẫn còn đó, chúng ta phải phân biệt hai chủ quyền khác nhau của Thiên Chúa trên thế giới. Cêsarê và Chúa không ở cùng một cấp độ, Chúa là Đấng Sáng Tạo, Chúa tể trời đất, Cêsarê là hoàng đế, những ông cũng chỉ là một thụ tạo, một con người, ông phải phụ thuộc vào Chúa và cũng phải trả lẽ trước mặt Chúa, đây không phải là Thiên Chúa hoặc Cêsarê mà là Thiên Chúa và Cêsarê, mỗi vị trong cấp độ xứng hợp riêng của mình.

Vậy "Trả cho Cêsarê những gì thuộc về Cêsarê" nghĩa là trả cho Cêsarê những gì chính Chúa muốn trao cho Cêsarê. Chúa thống trị trên tất cả kể cả Cêsarê, nên Thiên Chúa làm chủ quyền thiêng liêng Nước Chúa được thực thi trong Chúa Kitô qua Giáo hội của Người. Đương nhiên, Ngài làm chủ cả thế tục và thể chế chính trị mà Chúa thực hiện gián tiếp qua các quyền bính thế gian. Về vấn đề này, Chúa Giêsu đã từng nói rõ với Philatô khi ông nói với Chúa: "Ông không biết rằng ta có quyền tha ông, mà cũng có quyền đóng đinh ông hay sao?" (Ga 19, 10)  Chúa Giêsu đáp: "Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho" (Ga 19, 11). Thánh Phaolô là người đầu tiên nhìn thấy hiệu quả của giáo huấn này nên viết: "Mọi người hãy phục tùng chính quyền bởi vì không có quyền bính nào mà không đến từ Chúa. Ai chống lại quyền bính thì chống lại trật tự Thiên Chúa đã đặt ra… đó là lý do tại sao anh em phải nộp thuế bởi vì chính quyền chịu trách nhiệm như những người phục vụ Chúa" (Rm13,1).

Trước khi vâng lời con người, chúng ta phải vâng lời Thiên Chúa và lương tâm chúng ta. Đó cũng là nghĩa vụ của chúng ta phải nói với Cêsarê, cụ thể với quyền bính thế gian rằng, hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

Lạy Chúa là Đấng tạo thành trời đất và là chủ muôn loài, tất cả thuộc về Chúa, xin cho chúng con biết luôn hướng lòng về Chúa và tôn thờ Chúa là Chúa chúng con. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


CỦA THIÊN CHÚA TRẢ VỀ THIÊN CHÚA
 
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Trong Đại Hội La Vang năm nay, Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện (không thường trú) của Vatican tại Việt Nam, đã công khai và long trọng ngỏ lời cùng các Xê-da Việt Nam, bằng chính ngôn từ của Đức Giê-su Ki-tô đã nói với những người Pha-ri-sêu làm tay sai cho đế quốc Ro-ma vào những năm 30 sau CN: “Của Xê-da trả về Xê-da, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa" (Mt 28,18-20).Sở dĩ các nhà cầm quyền của nước ta bị nhắc nhở vì họ đã lạm quyền mà Thiên Chúa đã giao cho họ để phục vụ dân tộc Việt Nam. Thật vậy các Xê-da Việt Nam đã không tôn trọng, thậm chí tiếm đoạt, nhiều điều, nhiều thứ thuộc về Thiên Chúa, thuộc về nhân dân. Vì thế mà chúng ta được mời gọi suy gẫm cho thấu đáo và thực hành cho đến nơi đến chốn sứ điệp của Lời Chúa hôm nay:
                              
II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

2.1 Trong bài đọc 1 (Is 45,1.4-6):Đức Chúa đã cầm lấy tay phải vua Ky-rô để bắt các dân suy phục ông.
 
2.2 Trong bài đọc 2 (1 Tx 1,1-5b): Chúng tôi nhớ đến lòng tin, lòng mến và lòng trông cậy của anh em.
 
2.3 Trong bài Tin Mừng (Mt 22,15-21): Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.
 
III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH
 
3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?):

- là Đấng đã làm cho vua Kyrô được các dân xung quanh quy phục vì Thiên Chúa muốn dùng vua ấy để làm cho các dân biết rằng Người là Thiên Chúa duy nhất trên trần gian này không có Chúa nào khác (bài đọc 1).

- là Chúa Giê-su, Đấng đã xử sự một cách hết sức khôn ngoan và tỉnh táo trước lòng nham hiểm và thâm độc của những kẻ thù ghét Người. Chúa Giê-su chẳng những không để cho mình sa bẫy mình của họ mà Người còn lợi dụng cơ hội để truyền đạt một giáo huấn hết sức quan trọng trong cuộc sống con người thời xưa cũng như thời nay: nếu các vua chúa thời xưa và các chính quyền ngày nay có quyền của mình (thật ra thì quyền này cũng do chính Thiên Chúa ban cho) thì Thiên Chúa cũng có quyền của mình. Chúa Giê-su đòi hỏi quyền này cho Thiên Chúa, vì các nhà cầm quyền thường có xu hướng lãng quên, không nhìn nhận  và thậm chí tiếm quyền của Thiên Chúa: "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" (bài Phúc âm).

- là Chúa Thánh Thần, Đấng hiện diện và hành động cùng Chúa Cha và Chúa Giê-su. Người cũng là Đấng tác động và giúp đỡ các Ki-tô hữu và những ai thành tâm thiện chí nhìn nhận quyền của Thiên Chúa mà tôn trọng trong đời sống cá nhân và xã hội.

3.2 Giáo Huấn của Thiên Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay muốn chúng ta làm gì?):
 
Giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa được diễn tả trong hai câu Lời Chúa, một ở trong Sách I-sai-a, một ở trong Phúc Âm Mát-thêu: “Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta” (Is 45,5) và “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" (Mt 22,21).
 
IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa như con cái sống với cha mẹ, như kẻ thụ ơn đối với Đấng ban ơn, như tạo vật đối với Đấng Tạo Hóa, như đầy tớ đối với ông chủ.
 
4.2 Thực thi sứ điệp (hay giáo huấn) của Lời Chúa

* Một là chúng ta CHỈ TÔN THỜMỘT MÌNH THIÊN CHÚAMÀ THÔINHÌN NHẬN QUYỀN TỐI THƯỢNG & TUYỆT ĐỒI CỦA THIÊN CHÚA trên tất cả những gì chúng ta đã đang và sẽ có: hiện hữu của chúng ta với thân xác và linh hồn bất tử, tài năng, sức khỏe, của cải, thời gian và hoàn cảnh xã hội của chúng ta như những nén vàng nén bạc mà Thiên Chúa trao cho chúng ta quản lý và sinh lời sinh lãi cho Nước Trời.

* Hai là chúng ta phải tôn trọng và bảo vệ quyền của Thiên Chúa trong đời sống con người và cộng đồng xã hội, bằng cách tôn trọng và bảo vệ sự sống, phẩm giá và quyền con người, công lý và sự thật.  
 
V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH
 
5.1 «Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta.» Chúng ta hãy hiệp lời cầu nguyện cho các dân, các nước trong thế giới ngày nay để mọi người và mọi dân sớm nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa, là Thần Linh duy nhất trong vũ trụ này.

X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
 
5.2 «Thưa anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em.» Chúng ta hãy hiệp lời cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Phanxicô, các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ và cho toàn thể các tín hữu, để mọi Ki-tô hữu cảm nghiệm được tình yêu nhưng không và sự chọn lựa yêu thương của Thiên Chúa.
 
5.3 «Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình!» Chúng ta hãy hiệp lời cầu nguyện cho các mọi người thuộc giáo xứ/cộng đoàn chúng ta, để mọi người sống chân thật với Chúa và với nhau như ý Chúa muốn.
 
5.4 «Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa» Chúng ta hãy hiệp lời cầu nguyện cách đặc biệt cho các cấp chính quyền Việt Nam để mọi quan chức nhà nước biết tôn trọng quyền của Thiên Chúa và của con người khi điều hành mọi hoạt động kinh tế, tài chánh, văn hóa, chính trị và xã hội của đất nước. 
 
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
 Trở về
Các bài viết khác:
ĐỒNG LƯƠNG XỨNG ĐÁNG (19/09 21:58:57 PM)